Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển giáo dục đại học theo phương thức từ xa Chương 2: Thực trạng phát triển giáo dục đại học theo phương thức từ xa ở Việt Nam Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển giáo dục đại học theo phương thức từ xa ở Việt Nam giai đoạn 2014 - 2020 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THEO PHƢƠNG THỨC TỪ XA 1. Giáo dục đại học từ xa 1. Quan niệm và đặc điểm của giáo dục đại học từ xa 1. Quan niệm về giáo dục đại học từ xa Xét về hình thức chuyển tải thông tin giữa ngƣời dạy và ngƣời học, các học giả trên thế giới phân ra thành 2 loại hình: giáo dục tập trung mặt- giáp -mặt (face-to-face) và giáo dục từ xa (distance education).
Giáo dục đại học đƣợc cung cấp bằng phƣơng thức “mặt đối mặt” (face-to-face mode) hay phƣơng thức “qua phòng học” (classroom mode), vốn đã tồn tại từ hàng trăm năm nay, đƣợc gọi là đào tạo đại học truyền thống (traditional higher education) hay là đào tạo đại học "mặt đối mặt" (face-to-face higher education). Trong khi đó, Giáo dục đại học đƣợc cung cấp bằng phƣơng thức từ xa (distance mode), mới xuất hiện trong khoảng 100 năm qua, đƣợc gọi là giáo dục đại học từ xa (distance higher education). Moore (1990) nêu ra định nghĩa: " Giáo dục từ xa là quá trình mà trong đó thầy và trò xa cách nhau, do đó công nghệ và phƣơng tiện chuyển tải thông tin phải làm cầu nối cho quá trình dạy và học ”. Hiện nay, có nhiều thuật ngữ đƣợc sử dụng để mô tả khái niệm giáo dục - đào tạo đại học từ xa, chẳng hạn nhƣ Giáo dục mở, Giáo dục từ xa, Dạy từ xa, Học từ xa, Đào tạo từ xa hoặc Giáo dục ở xa.
Cho dù với khái niệm nào thì bản chất quá trình dạy và học phải bao hàm yếu tố có sự tách biệt, ngăn cách về mặt không gian hoặc/và thời gian. Triết lý của giáo dục mở là “mở cơ hội học tập cho mọi ngƣời", nhấn mạnh tính mềm dẻo và linh hoạt của hệ thống, giảm thiểu những rào cản gây ra do tuổi tác, vị trí địa lý, ràng buộc về thời gian, tình trạng kinh tế, và hoàn cảnh cá nhân. Ngày nay, cụm từ giáo dục mở và từ xa “Open and Distance Learning” đƣợc sử dụng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm giáo dục từ xa có yếu tố mở.
Nói cách khác, giáo dục từ xa là công cụ để thực hiện giáo dục mở. Theo nhiều học giả trên thế giới thì “Giáo dục từ xa là một quá trình giáo dục - đào tạo mà trong đó phần lớn hoặc toàn bộ quá trình giáo dục - đào tạo có sự tách biệt giữa ngƣời dạy và ngƣời học về mặt không gian hoặc/và thời gian”. Nhìn chung, để giáo dục từ xa thực sự có hiệu quả đòi hỏi ngƣời học phải ở một mức độ tự nhận thức nhất định. Có thể nói rằng, cho đến nay, chƣa có một định nghĩa nào duy nhất chính xác về giáo dục đại học từ xa.
Tuy nhiên, một cách tổng quát, giáo dục đại học từ xa là hoạt động dạy học diễn ra một cách gián tiếp theo phƣơng pháp dạy học từ xa. Giáo dục đại học từ xa đƣợc hiểu bao hàm các yếu tố dƣới đây: + Giảng viên và sinh viên ở một khoảng cách xa (tức là có sự ngăn cách về mặt không gian: khoảng cách này là tƣơng đối, có thể là cùng trƣờng học nhƣng khác phòng học hoặc khác nhau về vị trí địa lý, có thể vài kilômét hoặc hàng ngàn kilômét). + Nội dung dạy học trong quá trình dạy học đƣợc truyền thụ, phân phối tới cho sinh viên chủ yếu thông qua các hình thức thể hiện gián tiếp nhƣ văn bản in, âm thanh, hình ảnh hoặc số liệu máy tính. + Sự liên hệ, tƣơng tác giữa giảng viên và sinh viên (nếu có) trong quá trình dạy học có thể đƣợc thực hiện tức thời hoặc trễ sau một khoảng thời gian nào đó (có sự ngăn cách về mặt thời gian).
Tùy theo phƣơng thức phân phối các nội dung dạy học và sự liên hệ, tƣơng tác giữa giảng viên và sinh viên mà có các hình thức tổ chức, thực hiện giáo dục từ xa khác nhau. Về cơ bản ngƣời ta phân loại giáo dục đại học từ xa dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa giảng viên và sinh viên trong quá trình dạy học, đó là giáo dục đại học từ xa tƣơng tác và giáo dục đại học từ xa không tƣơng tác. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giáo dục đại học từ xa tƣơng tác (interactive/synchronous) là có sự tƣơng tác theo thời gian thực, trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên trong quá trình dạy học. Trong giáo dục đại học từ xa tƣơng tác, có một số phƣơng thức tổ chức đào tạo sử dụng các công nghệ điển hình nhƣ ở dƣới đây: + Radio hai chiều; Thoại hội nghị : Công nghệ này đƣợc dùng nhiều cho các chƣơng trình giáo dục phổ cập hơn là đào tạo cho ngƣời trƣởng thành.
Nó cũng đƣợc dùng nhiều nhƣ là hình thức bổ trợ cho các công nghệ đào tạo khác, ƣu điểm nổi bật là giá thành rẻ. + Cầu truyền hình: Sử dụng các bộ TIVI CODEC hoạt động ở tốc độ cao (2, 34Mbit/s), giống nhƣ các cầu truyền hình, giá thành của công nghệ này là đắt, thƣờng chỉ sử dụng cho nghiên cứu, cho các hoạt động cần có chất lƣợng âm thanh và hình ảnh rất cao. + Hội nghị truyền hình ISDN/IP: Sử dụng kết hợp công nghệ máy tính, viễn thông và truyền hình. Vấn đề trọng tâm của hội nghị truyền hình ISDN/IP là các bộ mã hoá âm thanh và hình ảnh với hệ số nén rất cao.
Giá thành của công nghệ này phụ thuộc vào yêu cầu chất lƣợng hình ảnh, âm thanh. Nhƣng nhìn chung là phù hợp với các doanh nghiệp, hoặc cá nhân có khả năng tài chính nhất định. Giáo dục đại học từ xa không tƣơng tác(non-interactive/ asynchronous) là không có sự tƣơng tác theo thời gian thực, trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên trong quá trình dạy học. Trong giáo dục đại học từ xa không tƣơng tác, có các phƣơng thức đƣợc sử dụng điển hình nhƣ: + Tài liệu, bài giảng in (print): Đây là công nghệ cổ điển, truyền thống nhất, dễ thực hiện nhất và đặc biệt là rẻ tiền nhất.
Tài liệu, bài giảng in sẽ tồn tại lâu dài dù cho các công nghệ nào khác chăng nữa sẽ đƣợc sử dụng cho giáo dục đại học từ xa trong tƣơng lai. + Băng/đĩa hình, băng/đĩa tiếng (audio/video tape, disk): Đây cũng là một công nghệ phổ biến trong những thập niên trƣớc, trong tƣơng lai 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công nghệ này sẽ không phát triển nhiều, hoặc nếu có chỉ đƣợc sử dụng là một hình thức bổ trợ cho các công nghệ khác. + Các chƣơng trình CBT, các công cụ mô phỏng (đĩa mềm, CD- ROM, Multimedia.): Công nghệ này dựa vào các ứng dụng mô phỏng của kỹ thuật máy tính. + Phƣơng tiện phát thanh, truyền hình quảng bá (broadcasting): Công nghệ này sử dụng các đài phát thanh, truyền hình để thực hiện giáo dục đại học từ xa.
Ƣu điểm của công nghệ này là cùng lúc có thể giảng dạy cho số lƣợng rất lớn sinh viên. Khả năng tiếp cận của ngƣời học cũng rất phong phú, tiện lợi. + Mạng Intranet, Internet (web, mail, e-learning.): Đây đƣợc coi là công nghệ giáo dục từ xa của thế kỷ 21. Có thể thấy các công nghệ sử dụng cho giáo dục đại học từ xa là rất đa dạng và phong phú.
Trên cơ sở các quan niệm và phƣơng thức giáo dục đại học từ xa nêu trên, trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, có thể diễn giải một cách tổng quát về giáo dục đại học từ xa nhƣ sau: “ giáo dục đại học từ xa là một phƣơng thức giáo dục - đào tạo dựa trên cơ sở của kỹ thuật nghe nhìn, công nghệ viễn thông và công nghệ thông tin. Giáo dục đại học từ xa lấy tự học là chủ yếu, có sự hỗ trợ tích cực của giáo trình, tài liệu hƣớng dẫn, băng hình/tiếng, phƣơng tiện truyền thanh/truyền hình, công nghệ thông tin và viễn thông; có thể đồng thời có sự hƣớng dẫn và hỗ trợ của giảng viên của cơ sở đào tạo”. Đặc điểm của giáo dục đại học từ xa * Xa cách về mặt không gian và thời gian Sự xa cách về mặt không gian hoặc thời gian giữa giảng viên (ngƣời biên soạn giáo trình, ngƣời phụ đạo hay hƣớng dẫn học tập, giải đáp thắc mắc) và sinh viên; giữa sinh viên với nhau là đặc trƣng đầu tiên của giáo dục đại học từ xa. Trong học tập truyền thống, khi quá trình truyền đạt diễn ra 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trực tiếp giữa thầy và trò, việc dạy và học diễn ra cùng thời điểm và cùng địa điểm, và diễn ra cùng một nhịp độ.
Với phƣơng thức học tập từ xa, thời điểm và địa điểm dạy có thể sẽ khác với thời điểm và địa điểm học, và nhịp độ dạy có thể khác nhịp độ học. Sự giãn cách, xa cách (distance) về mặt không gian giữa giảng viên và sinh viên; giữa sinh viên với nhau có thể là khoảng cách từ quốc gia này đến quốc gia khác, nhƣng cũng có thể là khoảng cách từ ngồi nhà này đến ngôi nhà khác trong một khu dân cƣ hoặc từ căn phòng này đến căn phòng khác trong cùng một toà nhà. nhƣng các hoạt động dạy và học có thể xảy ra đồng thời hay không đồng thời. Sự xa cách (distance) về mặt thời gian giữa giảng viên và sinh viên; giữa sinh viên với nhau là các hoạt động dạy và học không xảy ra đồng thời trong cùng hay không trong cùng một không gian.
* Dựa nhiều vào công nghệ và phương tiện Khác với các phƣơng thức giáo dục đào tạo truyền thống thông thƣờng, giáo dục đại học từ xa dựa nhiều vào công nghệ và phƣơng tiện. Các công nghệ bao gồm: cồng nghệ in ấn, công nghệ truyền thông và công nghệ thông tin. Các phƣơng tiện bao gồm: học liệu in ấn (giáo trình, sách giáo khoa in trên giấy), học liệu điện tử, băng đĩa hình tiếng, đầu băng đĩa, radio cassette, TV, máy tính nối mạng. Trong giáo dục đại học từ xa, không thể “bê” nguyên bộ giáo trình sử dụng trong đào tạo đại học „mặt đối mặt‟ và/ hoặc sử dụng các buổi học tập trung tại trƣờng hay trung tâm.