Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận về di tích - Di sản văn hóa: Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, giúp gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa, đồng thời là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.TS Nguyễn Thị Hiền thì Di sản văn hóa nói chung bao gồm các sản phẩm và các quá trình của văn hóa được sáng tạo, thực hành, bảo vệ và trao truyền của các thế hệ. Các di sản được coi như là tài sản văn hóa, bao gồm vật thể như nhà cửa, công trình kiến trúc, các tác phẩm nghệ thuật; phi vật thể như bài hát, âm nhạc, ca kịch, kỹ năng và tri thức truyền thống, tri thức về nấu ăn, về thủ công mỹ nghệ, lễ hội, thực hành nghi lễ dân gian… [14, tr.39] Luật Di sản văn hóa đã được kỳ họp thứ IX Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, thông qua ngày 29/6/2001, khẳng định: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [22]. - Di sản văn hóa vật thể: Theo quy định tại khoản 2, Điều 4 Luật Di sản văn hóa 2001: Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [22].
- Di sản văn hóa phi vật thể: Tại khoản 1, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung của Luật Di sản văn hóa quy định: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, 20 có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [23]. Tuy nhiên, cách phân chia di sản văn hóa như trên cũng chỉ mang tính tương đối, theo chúng tôi thì mỗi di sản đều mang cả hai giá trị vừa là vật thể và phi vật thể, chúng gắn kết chặt chẽ với nhau để tạo giá trị cho di sản đó. Một di sản văn hóa không thể thiếu một trong hai yếu tố trên. Vì giá trị văn hóa phi vật thể là linh hồn, là cốt lõi, là biểu hiện tinh thần của vật thể; còn giá trị vật thể lại là hiện hữu, chứa đựng yếu tố tinh thần.
- Di tích: Di tích là một bộ phận của di sản, là thành tố quan trọng của môi trường xã hội, là thông điệp của quá khứ gửi lại cho các thế hệ mai sau, nó có năng lực trường tồn cùng thời gian. Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, thì “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt lịch sử, văn hóa” [67]. Trong Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO được thông qua vào ngày 16/11/1972, di tích là một bộ phận nằm trong Di sản văn hóa và được định nghĩa “Các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội hoạ hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học” [65]. Theo Luật Di sản văn hóa (văn bản hợp nhất 2013), di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh được gọi chung là Di tích.
Trong đó bao gồm: Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương; Di tích Quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của Quốc gia và Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Trong đó, Di tích quốc gia đặc biệt bao gồm: 21 + Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; + Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam; + Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới; + Cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới. Di tích quốc gia đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng trên cơ sở lựa chọn các di tích quan trọng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích quốc gia. Tính đến thời điểm tháng 4/2020, cả nước có 112 Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định của thủ tướng Chính phủ.
- Phát triển: Theo tác giả Võ Quang Trọng Bảo trong công trình Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể - NXB Hà Nội, thì “Phát triển là sự biến đổi hoặc làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [3, tr. Đồng quan điểm trên, tác giả Nguyễn Như Ý trong Đại từ điển tiếng Việt cũng cho rằng: “Phát triển là sự vận động, tiến triển theo chiều hướng tăng lên như phát triển kinh tế, văn hóa. Luận văn nhìn nhận sự phát triển ở đây là sự nâng cao chất lượng phục vụ khách tham quan của các di tích cấp quốc gia đặc biệt ở tỉnh Bến Tre. Chất lượng này sẽ không ngừng được cải tiến liên tục, đáp ứng nhu cầu của công chúng.
Cơ sở lý luận về du lịch - Du lịch: Du lịch là nhu cầu hưởng thụ văn hóa của con người. Trong thực tế có rất nhiều định nghĩa về du lịch theo những góc nhìn khác nhau. Khó có thể nói định nghĩa nào là chính xác nhất, đầy đủ nhất. Không những thế, qua quá trình phát triển, nội dung của khái niệm du lịch cũng không ngừng được mở rộng.
Theo liên hiệp Quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Un- ion of Official Oragnization - IUOTO): “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…” Tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch hợp tại Roma - Italia (21/8 - 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch : “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”. Nhìn từ góc độ kinh tế, Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác. Căn cứ Luật Du lịch được Quốc hội khóa 14 thông qua ngày 19/6/2017 thì “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.[21] - Tài nguyên du lịch: Cũng theo Luật Du lịch (2017), thì “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu 23 cầu du lịch.
Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa”. Nói cách khác, tài nguyên du lịch là tổng thể các yếu tố tự nhiên, văn hóa, lịch sử và xã hội tác động đến nhu cầu, mong muốn đi du lịch của con người, được ngành du lịch khai thác nhằm mang lại lợi ích về kinh tế. Vì vậy, tài nguyên du lịch rất đa dạng và phong phú, vừa mang trong mình những giá trị hữu hình du khách có thể nhìn thấy hay cảm nhận trực tiếp bằng các giác quan, nhưng cũng vừa chứa đựng nhiều giá trị vô hình, luôn ẩn chứa bên trong nó. - Du lịch văn hóa : Là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại [21].
- Sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch [21]. Theo các tác giả Trần Ngọc Nam và Trần Huy Khang trong tài liệu Maketing Du lịch Việt Nam thì “Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình. Như vậy, sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ thể như thức ăn, đồ lưu niệm hoặc không cụ thể như chất lượng dịch vụ. Vì lẽ đó, sản phẩm du lịch có nhiều đặc tính riêng biệt như khách mua hàng trước khi thấy sản phẩm; sản phẩm du lịch thường là một kinh nghiệm nên dễ bắt chước; khoảng thời gian mua sản phẩm, thấy và sử dụng sản phẩm thường được kéo dài; đó là sự tổng hợp của nhiều ngành kinh doanh khác nhau; nhu cầu của khách đối với sản phẩm du lịch dễ thay đồi.