CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu vấn đề quản lý và phát triển nguồn nhân lực Giáo dục luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm sâu sắc của toàn thể xã hội.
Một xã hội phát triển toàn diện là một xã hội không ngừng đổi mới, tìm tòi các phương pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển các thế hệ tương lai của đất nước. Khái niệm giáo dục gắn liền với những vấn đề liên quan đến con người do con người là nhân tố quyết định mọi mặt phát triển của xã hội. Một số nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực ở nước ngoài Trong lịch sử thế giới, quản lý và phát triển nguồn nhân lực luôn là một trong những đề tài hấp dẫn và thiết thực của cuộc sống. “Không một hệ thống giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm những giáo viên làm việc cho nó.” (Sigh, 1994) Backer (1964) khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư chi phí chăm sóc, bồi dưỡng người lao động bởi đây chính là cách đầu tư gián tiếp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả lao động.
Theo Toffler (1970) thì thế giới chúng ta đang sống có ba loại sức mạnh: sức mạnh bạo lực, sức mạnh vật chất và sức mạnh tri thức. Tuy nhiên, điều quan trọng thực sự là sức mạnh tri thức, cụ thể là : năng lực nghiệp vụ, năng lực tổ chức và những sáng kiến của nhân viên. Hersey và Hard (1995) đã xem xét các tác động của khoa học hành vi vào quản lý nhân lực nhằm nâng cao chất lượng, năng suất lao động. Batal (2002) cho rằng, nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực, bao gồm kiểm kê, đánh giá và nâng cao hiệu quả của nguồn nhân lực.
Một số nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam Ở Việt Nam, chúng ta có một số công trình lớn, có giá trị thiết thực về quản lý nhân sự. Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm (1996) đã phân tích những kinh nghiệm trông công tác phát triển nguồn nhân lực quốc gia và chính sách phát triển nguồn nhân lực của một số nước trên thế giới. Mạc Văn Tiến (2005) và Lê Thị Hồng Điệp (2012) đều cho rằng vấn đề quản lý nhân sự và phát triển đội ngũ nhân sự là tiền đề cho một xã hội với nền kinh tế tri thức, nền kinh tế kỹ thuật cao. Các công trình nghiên cứu dựa trên hướng tiếp cận quản lý nhân sự cũng là một trong những đề tài được các nghiên cứu sinh và các học viên cao học quan tâm khá nhiều.
Theo Trần Quốc Tuấn (2014) “Phát triển nguồn nhân lực quản lý nhà nước về tiêu chuẩn đo lường chất lượng của Việt Nam” các lý thuyết về quản lý nguồn nhân lực cần được phân tích dưới tác động của các tiêu chuẩn đo lường chất lượng. Lê Thị Mỹ Linh (2009) “Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế” vận dụng các lý thuyết quản lý nhân lực vào điều kiện thực tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên 1. Vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên trên thế giới Lịch sử ngành quản lý nhân sự cho thấy, những khái niệm cơ bản, sơ khai nhất về nguồn nhân lực xuất hiện vào những năm cuối của thập niên 60 của thế kỷ 20.
Ở Hoa Kỳ, trong thời điểm này bắt đầu có các khái niệm về “Nguồn vốn con người”, “Nguồn lực con người”. Sau đó, các kiến thức này bắt đầu du nhập và thịnh hành ở các nước khác trên thế giới. Theo Backer (1964), phát triển đội ngũ giáo viên với tư cách là phát triển nguồn nhân lực của một ngành, một lĩnh vực. Tuy nhiên, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội thực tế của mỗi quốc gia ở từng thời điểm khác nhau, nội dung và cách thức giải quyết vấn đề cũng đa dạng, phong phú và mang màu sắc, đặc điểm riêng.
12 Theo Fullan và Hargreaves (1992) nghiên cứu các cách nâng cao năng lực cá nhân cho giáo viên, bao gồm: phát triển tâm lý, phát triển chuyên môn, nghiệp vụ, phát triển chu kỳ nghề nghiệp. Fullan và Hargreaves (2012) bổ sung vấn đề giáo viên sẽ tự động nâng cao năng lực của mình khi được tương tác trong một môi trường tập thể có sự khuyến khích những đóng góp cá nhân, tương tác nhóm và được học hỏi không ngừng. Bằng những minh chứng cụ thể, họ chỉ ra rằng việc sử dụng cách tiếp cận dựa trên tinh thần tự do, tôn trọng và khuyến khích để nâng cao các kỹ năng của giáo viên sẽ hiệu quả hơn nhiều so với việc sử dụng các mô hình giáo dục chỉ dựa trên việc thưởng theo thành tích hoặc phạt những lỗi cá nhân. Đa số các quốc gia trên thế giới đều xem việc phát triển đội ngũ giáo viên là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác phát triển giáo dục.
Trong các tổ chức giáo dục, mà cụ thể là nhà trường thì nhân sự chủ yếu là giáo viên, là tập thể sư phạm. Theo UNESCO (1998), bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục. UNESCO (2010) khẳng định nhà giáo có vai trò chủ chốt đối với sự phát triển giáo dục. Theo Đỗ Thị Thanh Tâm (2015), các nước Úc, New Zealand, Canada đã thành lập riêng các cơ sở chuyên bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên; Ở Pakistan, các giáo viên vào nghề dưới 3 năm cần phải tham gia chương trình bồi dưỡng kiến thức sư phạm bao gồm các nội dung như nghiệp vụ sư phạm, cách tiếp cận và đánh giá học sinh, tâm lý giáo dục, phương pháp nghiên cứu… trong 3 tháng, do nhà nước quy định; Thời gian bồi dưỡng giáo viên chỉ tập trung trong những tháng hè nhằm giúp giáo viên tập trung học tập, là điểm nhấn trong công tác bồi dưỡng cho giáo viên ở Philipin; Tại Nhật Bản, chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên khá phong phú và linh hoạt, dựa vào điều kiện thực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà các nhà quản lý giáo dục sẽ đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau, dựa trên một số các yêu cầu nhất định; Ở Đông Nam Á, từ năm 1998 đến nay, Thái Lan kết hợp được việc bồi dưỡng GV với thông tin tư vấn cho người dân ở các trung tâm học tập cộng đồng; Điều này vừa giúp 13 giáo viên được bồi dưỡng các kỹ năng sư phạm, vừa giúp người dân có thể tiếp cận và tìm hiểu các thông tin liên quan đến giáo dục một cách dễ dàng.
Sau khi xem xét, ta có thể thấy quan điểm phát triển đội ngũ giáo viên là một trong những điều kiện cơ bản để phát triển giáo dục là một quan điểm đúng đắn, được nhiều nước trên thế giới quan tâm, nghiên cứu và áp dụng. Do đó, những người làm công tác quản lý giáo dục cần ý thức rõ vai trò quan trọng của đội ngũ này vì đây chính là lực lượng quyết định sự thành bại của ngành giáo dục. Ta có thể thấy, chức năng của người giáo viên không chỉ ở năng lực dạy học. Trong nền kinh tế trí thức hiện đại, giáo viên cần được trang bị các năng lực tổ chức dạy học, năng lực phát triển chương trình và định hướng các mối quan hệ xã hội.
Phát triển đội ngũ giáo viên không chỉ là tăng số lượng người dạy học mà chính là phát triển nguồn nhân lực của một ngành, một lĩnh vực. Theo xu hướng toàn cầu, nhiều nước trên thế giới tập trung chuẩn hóa các hoạt động cải cách giáo dục, cải cách quản lý giáo dục. Ngày càng nhiều nước xây dựng bộ chuẩn toàn diện cho ngành giáo dục như: chuẩn nhà trường, chuẩn chất lượng giáo dục, chuẩn cán bộ quản lý giáo dục, chuẩn giáo viên. Trong từng bộ chuẩn lớn lại có những bộ chuẩn nhỏ hơn nhằm quy định cụ thể và rõ ràng hơn những yêu cầu đối với ngành giáo dục.
Ví dụ như: trong bộ chuẩn giáo viên có phân chia ra thành chuẩn trình độ đào tạo, chuẩn nghề nghiệp, chuẩn chức danh,.Một số quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Anh đã đạt được những bước tiến quan trọng. Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên xây dựng chuẩn đào tạo dành cho ngành nghề này. Ủy ban Quốc gia Chuẩn nghề dạy học Hoa Kỳ (National Board for Professional Teaching Standards (1987) đề ra 5 điểm cốt lõi cho chuẩn giáo viên bao gồm: - Tận tụy trong việc dạy và quan tâm đến việc học của học sinh - Nắm được các kiến thức và phương pháp dạy môn học, biết cách dạy môn học của mình và biết cách liên hệ với các môn học khác - Có trách nhiệm với công việc giảng dạy, quản lý, kiểm tra, đánh giá việc học của học sinh 14 - Suy nghĩ sáng tạo và phát triển kinh nghiệm nghề nghiệp - Là một thành viên đáng tin cậy của cộng đồng giáo dục, hợp tác với đồng nghiệp, với cha mẹ học sinh. Dựa trên nền tảng này, mỗi bang của Hoa Kỳ sẽ tự xây dựng các chuẩn phù hợp phù hợp với tình hình thực tế của từng nơi.
Theo Bộ Giáo dục Vương quốc Anh (2013), chuẩn nghề nghiệp giáo viên bao gồm 8 chuẩn chuyên môn và 3 chuẩn mực đạo đức.