Mở đầu Trình bày khái quát về lý do nghiên cứu, xác định mục tiêu nghiên cứu, đưa ra câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, sau đó đưa ra phương pháp nghiên cứu đế thực hiện đề tài. Cuối cùng là ý nghĩa và kết cấu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận Tác giả sẽ ưình bày các khái niệm liên quan đến “đô thị thông minh”, “thành phổ thông minh”, các lý thuyết nghiên cứu liên quan đến đề tài. Trên cơ sở đó tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Tác giả đề cập đến cách thức, phương pháp thực hiện nghiên cứu, điều chỉnh thang đo, phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Tác giả trình bày khái quát về thông tin mẫu khảo sát, phân tích và đánh giá các kết quả nghiên cứu. Chương 5: Hàm ý quản trị 'gc giả tóm tắt các kết quả nghiên cứu và đề xuất một số hàm ý quản trị. Đồng thời, nêu lên những hạn chế của nghiên cứu và đề nghị các hướng nghiên cứu tiếp trong tương lai.
Tài liệu tham khảo. CO SỎ LÝ THUYẾT 2.1 Các khái niệm cơ bản về Đô thị thông minh 2.1 Khái niệm Đô thị và Thành phố Ở Việt Nam, theo Nghị quyết sổ 1210/2016/UBTVQH13 ngày ngày 25 tháng 05 năm 2016 của ủy ban thường vụ quốc hội khóa XIII quy định thì thành phố trực thuộc trung ương được phân loại đô thị theo tiêu chí đô thị loại đặc biệt hoặc đô thị loại I. Thành phố thuộc tĩnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương được phân loại đô thị theo tiêu chí đô thị loại I hoặc đô thị loại II hoặc đô thị loại III. Thị xã được phân loại đô thị theo tiêu chí đô thị loại III hoặc đô thị loại IV.
Thị trấn được phân loại đô thị theo tiêu chí đô thị loại IV hoặc đô thị loại V. Khu vực dự kiến hình thành đô thị trong tương lai được phân loại theo tiêu chí loại đô thị tương ứng. Có nhiều khái niệm về thành phố khác nhau trên thế giới. Tại Việt Nam, theo Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày ngày 25 tháng 05 năm 2016 của ủy ban thường vụ quốc hội khóa XIII quy định thế chế thành phố được xác định theo nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Quốc hội dựa trên một số tiêu chí nhất định như diện tích, dân số, tình trạng công trình hạ tầng xã hội hay mức độ quan trọng về kinh tế, chính trị.
về cơ bản, các đô thị từ loại III trở lên là những thành phổ. Một số thành phố ở Việt Nam là đơn vị hành ^lính câp tình (câp 1), gọi là các Thành phô trực thuộc trung uợpg. Các thành phô còn lại là đơn vị hành chính câp huyện (câp 2), gọi là Thành phố thuộc thành phổ trực thuộc trung ương và Thành phổ thuộc tình. Áp dụng các khoản trong Điều 6 cùa Nghị định Chính phủ số 42/2009/NĐ-CP về việc phân loại Đô thị ngày 07 tháng 05 năm 2009 quy định các Tiêu chuẩn đế phân loại Đô thị, địa diem dân cư khu đô thị Vinhomcs Grand Park, Thành Phố Thù Đức, TP Hồ Chí Minh đù điều kiện đế trở thành khu đô thị khi xét các tiêu chí: chức năng đô thị, quy mô dân sổ, mật độ dân sổ, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, hệ thống công trình hạ tầng đô thị và kiến trúc, cảnh quan tại khu đô thị (Nghị định Chính phủ về việc phân loại đô thị, 2009) Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc trung ương, đồng thời cũng được phân loại là đô thị loại đặc biệt.
Vậy nên trong quá trình xây dựng mô hình “thành phố thông minh” hay “đô thị thông minh” cho thành phố Hồ Chí Minh gần như là giống nhau.2 Khái niệm Đô thị thông minh Trong các tài liệu nghiên cửu của cả trong và ngoài nước thì đa phần không đề cập rõ sự khác biệt giữa “đô thị thông minh” và “thành phố thông minh”. Hầu hết các nguồn tìm kiếm trên internet đều dùng chúng như là một sự thay thế cho nhau. Đô thị thông minh và Thành phố thông minh là hai khái niệm gần như là giống nhau. Tuy nhiên, cả hai đều có sự khác biệt riêng nhưng trong hầu hết các tài liệu nghiên cứu của cả trong và ngoài nước thì không đồ cập đến điều này.
Đa phần các bài báo, nguồn tìm kiếm ưên internet đều dùng chúng như là một từ đồng nghĩa có thể thay thế được cho nhau và từ “Đô thị thông minh” được sử dụng nhiều hơn cả. Ngày nay, hơn một nửa dân số thế giới sổng ở các đô thị, vì vậy việc triển khai các “Đô thị thông minh” đang được coi là một chiến lược để giải quyết các vấn đồ đô thị hóa nhanh chóng (Bacic, 2022). Có rất nhiều khái niệm về “Đô thị thông minh” và các khái niệm này được sử dụng không nhất quán với nhau. Dưới đây, trình bày về khái niệm “Đô thị thông minh” của các nhà nghiên cứu trước: Đô thị là thông minh “khi các khoản đầu tư vào vốn con người và xã hội cũng như cơ sở hạ tầng truyền thông truyền thống (giao thông vận tải) và hiện đại (ICT) mang lại hiệu quả bồn vững tăng trưởng kinh tế và chất lượng cuộc sống cao, với sự quản lý khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thông qua quản trị có sự tham gia của người dân” (Caragliu và cộng sự, 2011).
“Đô thị thông minh” có thể được hiểu là một cộng đồng trong đó công dân, các công ty kinh doanh, các tổ chức tri thức và các cơ quan của Đô thị họp tác với nhau đề đạt hiệu quả và tích hợp hệ thông, sự tham gia của người dân và liên tục cải thiện chất lượng cuộc sống (Snow và cộng sự, 2016). Cải thiện môi trường sống và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân là hai mục tiêu quan trọng của “Đô thị thông minh” vì người dân là người sử dụng chính các thiết bị và dịch vụ thông minh (Hsiaoping Yeh, 2017). Năm 2014, Liên minh Viễn thông Quốc tế đã phân tích hơn một trăm định nghĩa khác nhau về “đô thị thông minh”, qua phân tích họ rút ra được: “Đô thị thông minh là đô thị sáng tạo sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông và các phương tiện khác đề cải thiện chất lượng cuộc sống, hiệu quả của hoạt động, dịch vụ đô thị và khả năng cạnh tranh, đồng thời đảm bảo đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại và tương lai về khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường” (Bacic, 2022) “Đô thị thông minh” là một tập họp phức tạp của công nghệ (cơ sở hạ tầng phần cứng và phần mềm), con người (sáng tạo, đa dạng và giáo dục) và thế chế (quản trị và chính sách) (Nam và Pardo, 2011).“ĐÔ thị thông minh” nên được khám phá theo quan điểm toàn diện, không đánh giá quá cao khía cạnh công nghệ mà xem xét các khía cạnh kinh tế, xã hội, chính phù và môi trường (Stratigea, 2012; Albino và cộng sự, 2015; Neirotti và cộng sự, 2014) như một tập hợp các yếu tố hồ trợ tích hợp để cải thiện đô thị và dịch vụ (Troisi và cộng sự, 2022) Tóm lại, chúng ta có thể suy luận qua các tài liệu hiện tại của các “Đô thị thông minh”, hai định nghĩa chính đã được đề xuất đổ mô tả các Đô thị này là: Thứ nhất đặc trưng cho các “Đô thị thông minh” bằng việc sử dụng rộng rãi ICT cho các cơ sở hạ tầng truyền thống để cải thiện sự tham gia của nguồn vốn con người và xã hội. Thứ hai xác định các “Đô thị thông minh” là các Đô thị có cơ sờ hạ tầng vật lý, xã hội và kinh tế thông minh đồng thời đảm bảo tính trung târp cua cư dân trong một môi trường bền vững.
Ngoài ra còn tập trung tiếp cận các sáng kiến, công nghệ mới đe nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của các Đô thị.13 Vai trò và lợi ích của việc xây dựng Đô thị thông minh Theo tác giã Bacic và cộng sự (2013), việc xây dựng “Đô thị thông minh” sẽ tạo ra các giá trị to lớn về mặt kinh tế và xã hội như: • Nâng cao tính cạnh tranh trong nền kinh tế. Tăng cường họp tác, đổi mới và phát triển kinh tế trên mọi mặt. • Với hệ thống quàn lý, công nghệ mạng thông minh sẽ làm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. • Tư duy con người phát triển, sử dụng thành thạo các thiết bị kỹ thuật thông minh giúp nâng cao sản xuất kinh doanh.
• “Đô thị thông minh” mà ở đó có hiệu quả quản lý đô thị tốt, người dân ý thức ưong việc bảo vệ môi trường, phát triển Đô thị xanh, sạch, hiện đại. • Các yếu tố về y tế, giáo dục, an ninh, chất lượng nhà ở, phúc lợi xã hội đều được đàm bảo an toàn và có mọi điều kiện thuận lợi đế phát triển bèn vừng. Lợi ích của “Đô thị thông minh” xét cho cùng là làm người dân được cảm thấy cuộc sống hạnh phúc hơn, tiếp cận dịch vụ tốt hơn, sống trong môi trường an toàn, trong sạch hơn và kinh tế phát triển bồn vững hơn. Theo Campisi và cộng sự vào năm 2021 những lợi ích liên quan đến sự phát triến của “đô thị thông minh” được mô tả ngắn gọn như sau: • Các đô thị ra quyết định hiệu quả hơn dựa trên dữ liệu lớn.
• Sự tham gia của người dân và chính phủ nhiều hơn: Việc mở rộng các dịch vụ kỹ thuật số trong các cộng đồng làm cho các “đô thị thông minh” trở nên hấp dẫn hơn đối với người dân và thúc đẩy trải nghiệm kết nối đô thị, tăng cường sự tham gia của người dân và sự tin tường cùa các quan chức đô thị. • Cộng đồng an toàn hơn: Vận dụng những tiến bộ công nghệ và theo đuổi quan hệ đổi tác công tư giúp giảm hoạt động tội phạm. Việc sử dụng các cảm biến và camera 24 giờ có thế mang lại cảm giác an toàn cho người dân. • Giảm dấu chân môi trường: Các tòa nhà tiết kiệm năng lượng, cảm biến chất lượng không khí và các nguồn năng lượng tái tạo cung cap cho các đô thị những công cụ mới đe giâm dấu vết sinh thái của các tác nhân tác động xấu đến môi trường • Cải thiện Giao thông vận tải: Hệ thống giao thông kết nổi có tiềm năng lớn đế cải thiện giao thông trong đô thị.
Các công nghệ quản lý giao thông tốt như tín hiệu giao thông thông minh, quàn lý bãi đậu xe thông minh, các ứng dụng và cảm biến đế theo dõi các vị trí xe buýt, xe lửa.