mở đầu cho hoạt động dịch vụ thẻ tại Việt Nam. Cho đến nay, các ngân hàng tham gia vào thị trường thẻ ngày một nhiều và hướng tới phục vụ thẻ cho đông đảo quần chúng với các sản phẩm đa dạng nhằm 10 đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Thị trường thẻ đã góp phần quan trọng không thể thiếu trong xu thế hội nhập quốc tế của Việt Nam. Những tiện ích mà thẻ mang lại đã góp phần thay đổi thói quen dùng tiền mặt trong dân cư, nâng cao dân trí, góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa, kích thích kinh doanh dịch vụ phát triển.
Khái niệm về thẻ ngân hàng Thẻ nhựa bao gồm thẻ tín dụng, thẻ chấm công, thẻ rút tiền tự động, đầu tiên ra đời vào năm 1951 mang tên credit card. Cha đẻ của những chiếc thẻ nhựa này là ông Namara (Mỹ). Ngay từ khi vừa ra đời, thẻ nhựa được nhiệt liệt chào đón nồng nhiệt bởi những người giàu có trong xã hội Mỹ. Tuy nhiên, chỉ 27 nhà hàng sang trọng ở New York cho phép sử dụng chiếc credit card đầu tiên này và sử dụng hạn chế.
Nhận thấy vai trò tiện ích của thẻ nhựa, vào năm 1965, một ngân hàng của Mỹ tên là Bank of America đã cấp giấy phép cho các ngân hàng lớn nhỏ khắp Hoa Kỳ được sử dụng Bank Americard cho khách hàng. Và những chiếc thẻ thần kỳ này đã đưa Bank of America từ một ngân hàng địa phương (Local Bank) thành một trong những ngân hàng lớn nhất thế giới. Sự ra đời của credit card khởi đầu cho một bước đột phá cho công nghệ thẻ nhựa trên thế giới. Hiện nay Visa, Mastercard, AMEX, JCB là bốn tổ chức thẻ quốc tế lớn cùng với nhiều công ty và ngân hàng liên kết với nhau để phát hành ra thị trường các loại thẻ nhằm đáp ứng nhu cầu cao và đa dạng của khách hàng.
Có nhiều khái niệm khác nhau về thẻ ngân hàng, theo quy chế về “Phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng” ban hành kèm theo quyết định số 371/1999-QĐ – NHNN ngày 19 tháng 10 năm 1999 thì thẻ ngân hàng được hiểu là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành, thẻ được cung cấp cho khách hàng sử dụng theo thỏa thuận trong hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ. Theo các định nghĩa phổ biến hiện nay thì thẻ ngân hàng được phát hành bởi ngân hàng và các công ty tài chính. Thẻ ngân hàng là công cụ được tích hợp nhiều chức năng, bao gồm thanh toán, chuyển tiền, rút tiền, gửi tiết kiệm, thực hiện các giao dịch liên kết với các ứng dụng điện tử… 11 Từ những khái niệm về thẻ trên thì, thẻ ngân hàng được hiểu là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành được cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán các hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Đây là một dạng tín dụng tuần hoàn dành cho thanh toán mà người tiêu dùng có thể sử dụng cho tất cả các giao dịch một cách linh hoạt.
Khách hàng có thể trả nợ một hoặc nhiều lần theo một thời hạn nhất định và theo một hạn mức được quy định của ngân hàng phát hành thẻ. Đặc điểm cấu tạo thẻ thanh toán Thẻ ngân hàng – tiền điện tử - là phương tiện thanh toán hiện đại nhất trên thế giới ngày nay, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn với sự ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng. Ở nước ta, khái niệm thẻ thanh toán được quy định tại điều 2 của “Quy chế phát hành, thanh toán, cung cấp và sử dụng dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ của ngân hàng”, kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 của thống đốc NHNN Việt Nam: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành, để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện, điều khoản do các bên thỏa thuận”, giao dịch thẻ là việc sử dụng thẻ để gửi, nạp, rút tiền mặt, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, sử dụng các dịch vụ khác do tố chức phát hành thẻ, tố chức thanh toán thẻ cung ứng. Ngoài ra, còn có khái niệm khác về thẻ ngân hàng – theo Nguyễn Đăng Dờn và các thành viên (2009), “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại”, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM : “Thẻ ngân hàng là một loại công cụ thanh toán hiện đại do ngân hàng phát hành và bán cho các đơn vị và cá nhân, để họ sử dụng trong thanh toán tiền mua bán hàng hóa, dịch vụ…hoặc rút tiền tại các ngân hàng đại lý hay các quầy trả tiền tự động (ATM)”.
Tóm lại : Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng đề thanh toán hàng hóa dịch vụ hoặc để rút tiền mặt ở các máy rút tiền tự động hay các ngân hàng đại lý 12 trong phạm vi số dư tài của mình ở tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đồng ký kết giữa NHPHT và chủ thẻ. Khi mới xuất hiện, thẻ được làm bằng kim loại, nhưng qua nhiều giai đoạn phát triển, ngày nay thẻ thanh toán có cấu tạo như sau: - Thẻ ngân hàng có dạng hình chữ nhật với 4 góc tròn, được làm bằng nhựa cứng (plastic). - Kích cỡ tiêu chuẩn quốc tế là 8,5cm x 5,5cm x 0,07cm. - Tuỳ theo phương pháp quản lý dữ liệu mà thẻ được chế tạo có lớp dải băng từ hoặc vi mạch điện tử (thẻ chip) hoặc có cả băng từ và chip (thẻ từ có chip).
- Các yếu tố trên thẻ : - Tên và biểu tượng của ngân hàng phát hành. - Số thẻ: số được dập nổi lên trên thẻ, được in trên hoá đơn khi mua hàng - Ngày hiệu lực của thẻ: Đây là thời hạn mà thẻ được lưu hành. - Họ tên chủ thẻ: In chữ nổi, là tên cá nhân (thẻ cá nhân) hoặc tên công ty và người được ủy quyền sử dụng (thẻ công ty) - Yếu tố bảo mật, lưu trữ thông tin của thẻ: dải băng từ hoặc chip điện tử. - Ô chữ ký: Chủ thẻ ký chữ ký mẫu để đơn vị chấp nhận thẻ kiểm tra khi chủ thẻ thực hiện giao dịch thanh toán.
Một số hướng dẫn đối với chủ thẻ: đường dây nóng, địa chỉ liên lạc của đơn vị phát hành. Phân loại thẻ ngân hàng 1.1 Phân loại theo công nghệ sản xuất - Thẻ khắc chữ nổi (Embossed Card): là loại thẻ sơ khai ban đầu, được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi các thông tin cần thiết trên bề mặt thẻ. Hiện nay loại thẻ này không được sử dụng nữa vì kỹ thuật sản xuất thô sơ, tính bảo mật kém và dễ làm giả. - Thẻ từ (Magnetic Card): là loại thẻ có băng từ ở mặt sau thẻ, các thông tin của chủ thẻ vừa được dập nổi ở mặt trước vừa được mã hoá trong băng từ ở mặt sau của thẻ.
Nhược điểm của loại này là số lượng các thông tin được mã hoá 13 không nhiều và mang tính cố định nên không thể áp dụng kỹ thuật mã hoá an toàn, kẻ gian có thể lợi dụng đọc được thông tin và làm thẻ giả, hoặc tạo các giao dịch giả. - Thẻ thông minh (Smart Card): Là loại thẻ có đặt một chip điện tử tương tự như một máy tính cực nhỏ trên thẻ, trong đó lưu trữ tất cả các thông tin về thẻ, chủ thẻ với độ bảo mật cao. Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán. Theo tính chất thanh toán - Thẻ tín dụng (credit card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ được thực hiện giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền trong phạm vi hạn mức đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ - Là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cung cấp cho nguời sử dụng khả năng chi tiêu trước trả tiền sau.
Các ngân hàng thường phân thẻ tín dụng theo hạng nhằm quản lý đối tượng khách hàng như thẻ chuẩn, thẻ vàng, thẻ bạch kim … Chủ thẻ sử dụng thẻ tín dụng có phân hạng càng cao thì được hưởng càng nhiều ưu đãi và dịch vụ chất lượng hơn. - Thẻ ghi nợ (debit card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ được thực hiện giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi thanh toán. Mức chi tiêu của chủ thẻ phụ thuộc chủ yếu vào số dư trong tài khoản. Ngân hàng giữ vai trò cung cấp dịch vụ cho chủ thẻ và thu phí dịch vụ.
Đối với thẻ ghi nợ, giữa ngân hàng và khách hàng không diễn ra quá trình cho vay tín dụng, không có việc phân loại khách hàng nên mọi khách hàng chỉ cần có tài khoản tại ngân hàng đều có thể tiếp cận với sản phẩm thẻ ghi nợ của ngân hàng. Chính vì vậy về mức độ có thể thay thể tiền mặt, thẻ ghi nợ chiếm ưu thế vượt trội so với thẻ tín dụng. - Thẻ trả trước (Prepaid card): là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ, tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ - Thẻ nội địa: là loại thẻ chỉ được sử dụng trong phạm vi một quốc gia và đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ, các ngân hàng phát hành, các đơn vị chấp nhận 14 loại thẻ này cũng được đặt trong nước, loại thẻ này cũng chỉ được lưu hành tại nước đó.
- Thẻ quốc tế: là loại thẻ được phát hành bởi các ngân hàng trong nước và ngân hàng quốc tế, các tổ chức tài chính là thành viên của hiệp hội thẻ quốc tế. Loại thẻ này không chỉ được sử dụng trong phạm vi quốc gia mà còn được dùng trên toàn thể giới. - Thẻ quốc tế được chấp nhận thanh toán trên toàn cầu và sử dụng các loại ngoại tệ mạnh để thanh toán. Để phát hành thẻ quốc tế, tổ chức phát hành thẻ phải là thành viên của tổ chức thẻ quốc tế.
Khách hàng khi sử dụng thẻ quốc tế phải chịu nhiều chi phí hơn so với thẻ nội địa, đặc biệt là chi phí liên quan đến việc chuyển đổi ngoại tệ. Phân loại theo chủ thể phát hành - Thẻ do ngân hàng phát hành (Bank Card): là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng linh hoạt số dư tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng hạn mức tín dụng do ngân hàng cấp.