phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ thẻ của Ngân hàng thương mại Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ THẺ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm thẻ ngân hàng Thẻ là phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt, do ngân hàng hoặc tổ chức tài chính phát hành thẻ cấp cho khách hàng (gọi là chủ thẻ) sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc để rút tiền mặt ở các máy rút tiền tự động hay tại các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dƣ của tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng đƣợc ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ. Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành và cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ. Sự ra đời của thẻ là thành quả của sự đổi mới và khả năng marketing của các chuyên gia ngân hàng thế giới. Có thể nói, thẻ thanh toán là một trong những thành tựu lớn của ngành công nghiệp ngân hàng.
Đó là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực tài chính cá nhân. Sự bùng nổ trong hoạt động bán lẻ vào những năm 1970 và 1980 sẽ không xảy ra nếu không có sự xuất hiện của thẻ. Thẻ ngân hàng đƣợc hình thành tại Mỹ từ thói quen cho khách hàng mua chịu của các chủ tiệm bán lẻ trên cơ sở uy tín của khách hàng đối với cửa hàng. Thẻ xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ vào năm 1914, khi tổng công ty xăng dầu California cấp thẻ cho nhân viên và một số khách hàng của mình.
Đến năm 1946, dạng thẻ đầu tiên của thẻ ngân hàng là Charge-It của ngân hàng John Biggins xuất hiện ở Mỹ, cho phép các khách hàng thực hiện các giao dịch nội địa bằng các phiếu có giá trị đƣợc ngân hàng phát hành. Vào năm 1950, Diners Club đã phát hành tấm thẻ tín dụng đầu tiên đƣợc làm bằng chất liệu Plastic. Ý tƣởng phát hành ra tấm thẻ này là của ông Frank 8 NcNamara, ngƣời sáng lập ra Diners Club. Sau Diners Club vào năm 1958, công ty American Express cũng tham gia vào thị trƣờng thẻ ngân hàng và đã nhanh chóng thiết lập tên tuổi của mình trong lĩnh vực này.
Trƣớc năm 1970, khái niệm thẻ tín dụng đã đƣợc mọi ngƣời biết đến và đón nhận nhanh chóng. Năm 1966, khởi đầu cho giai đoạn tăng tốc trong phát triển dịch vụ thẻ, ngân hàng Bank of American thông qua việc ký các hợp đồng đại lý, đã trao quyền phát hành thẻ BankAmerican của mình cho các ngân hàng khác. Tới năm 1977, thẻ của ngân hàng Bank of American thực sự trở lên quen thuộc và đƣợc chấp nhận trên toàn cầu, tên thẻ Visa ra đời với màu sắc đặc trƣng vẫn là xanh lam, trắng và vàng. Cũng vào năm 1966, để cạnh tranh đƣợc với Bank of American, 3 nhóm ngân hàng lớn phía đông nƣớc Mỹ đã quyết định hợp tác thành lập tập đoàn kinh doanh tín dụng riêng, có tên là Interbank Card Association (ICA).
Sau này ICA đã đƣợc đổi thành MasterCard. Năm 1968, thông qua việc liên kết các đối tác tại thị trƣờng Mexico và thị trƣờng châu Âu, ICA bắt đầu chiến lƣợc mở rộng kinh doanh trên phạm vi toàn cầu và cho ra đời thẻ Eurocard. Cũng trong năm 1968, nhằm từng bƣớc thâm nhập và chiếm lĩnh thị trƣờng Đông Á, tổ chức này đã kết nạp thêm thành viên là một số ngân hàng tại Nhật Bản. Trong khoảng thời gian 25 năm trở lại đây, ngành công nghiệp thẻ thanh toán, đặc biệt là thẻ ngân hàng mới thực sự đƣợc phát triển.
Với mạng lƣới thành viên và khách hàng liên tục phát triển, các TCTQT đã xây dựng hệ thống xử lý giao dịch và trao đổi thông tin toàn cầu về việc phát hành, thanh toán, cấp phép, tra soát, khiếu kiện và quản lý rủi ro. Với doanh số giao dịch trăm tỷ USD hàng năm, thẻ ngân hàng đang cạnh tranh quyết liệt cùng với sécvà tiền mặt trong hệ thống thanh toán toàn cầu. Cùng với sự phát triển của 2 tổ chức thẻ quốc tế Visa, Master, một loạt các tổ chức thẻ có tính chất quốc tế khác nối tiếp xuất hiện nhƣ: JCB, American Express, Eurocard… Hiện nay, 9 ngƣời sử dụng thẻ có thế sử dụng thẻ ở gần hết các nƣớc trên thế giới, họ không còn phải lo việc chuyển đổi sang đồng tiền nội địa khi ra nƣớc ngoài. Trong quá trình phát triển, thẻ đƣợc hiểu với một số khái niệm sau: - Thẻ là phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ (ĐVCNT).
- Thẻ là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng hoặc công ty phát hành thẻ với chủ thẻ. - Thẻ là một phƣơng tiện ghi sổ số tiền thanh toán thông qua thiết bị đọc thẻ phối hợp với hệ thống nối mạng vi tính để kết nối trung tâm phát hành thẻ với các điểm thanh toán. Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và an toàn hơn cho các đối tƣợng tham gia thanh toán. - Thẻ hay thẻ chi trả là một phƣơng tiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ mà không dùng tiền mặt, có thể đƣợc dùng để rút tiền mặt tại các đại lý của ngân hàng hoặc máy giao dịch tự động (ATM).
Nhƣ vậy, có thể hiểu thẻ là một phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà ngƣời sử dụng thẻ dùng nó để trả tiền hàng hóa, dịch vụ, rút tiền mặt tại các ĐVCNT hoặc tại các máy giao dịch tự động (ATM). Tham gia vào một giao dịch thẻ có 3 hoặc 4 thành viên: Chủ thẻ (khách hàng), cơ sở chấp nhận thẻ (nơi cung ứng hàng hoá dịch vụ), ngân hàng phát hành, ngân hàng thanh toán. Đối với ngân hàng, việc phát hành và thanh toán thẻ là hoạt động bao gồm các nghiệp vụ cho vay, huy động vốn, thanh toán trong nƣớc và ngoài nƣớc. Phân loại thẻ ngân hàng Đứng trên nhiều giác độ khác nhau để phân loại thì có thể chia thành các loại thẻ nhƣ sau: 10 Thẻ Đặc Chủ thể Tính Hạn Phạm vi tính kỹ phát chất mức tín sử dụng thuật hành thanh dụng toán Thẻ Thẻ Thẻ do Thẻ do Thẻ tín Thẻ ghi Thẻ rút Thẻ liên Thẻ Thẻ Thẻ Thẻ băng từ th ng ngân tổ chức dụng nợ tiền mặt kết vàng, chuẩn trong quốc tế minh hàng phi thẻ nƣớc (thẻ phát ngân bạch chíp) hành hàng kim phát hành Sơ đồ 1.1: Phân loại thẻ ngân hàng 1.
Theo đặc tính kỹ thuật: Thẻ băng từ: Đƣợc sản xuất dựa trên kĩ thuật từ tính với một băng từ chứa hai rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Là loại thẻ có dải băng từ ở mặt sau của thẻ, các thông tin liên quan đến chủ thẻ và thẻ đều đƣợc mã hóa trong băng từ. Đây là loại thẻ đƣợc sử dụng rất phổ biến nhƣng khi trình độ công nghệ phát triển, nó đã bộc lộ một số nhƣợc điểm nhƣ tính bảo mật không cao do thông tin ghi trên thẻ không tự mã hóa đƣợc, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít nên dễ bị kẻ gian lợi dụng đọc thông tin và làm thẻ giả hoặc tạo các giao dịch giả gây thiệt hại cho chủ thẻ và ngân hàng. Thẻ th ng minh (thẻ điện tử c bộ vi xử lí chip): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, có đặc tính bảo mật và an toàn rất cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu tạo nhƣ một máy tính hoàn hảo.
Tuy nhiên, do sử dụng công nghệ mới nên giá thành cao, hệ thống máy móc chấp nhận thanh toán thẻ này cũng khá đắt nên sử dụng còn chƣa phổ biến nhƣ thẻ từ. Việc phát hành và chấp nhận thanh toán thẻ này mới chỉ phổ biến ở các 11 nƣớc phát triển mặc dù các tổ chức thẻ quốc tế vẫn khuyến khích các ngân hàng thành viên phát hành và thanh toán lại thẻ này nhằm giảm tỷ lệ rủi ro do giả mạo thẻ. Theo chủ thể phát hành: Thẻ do ngân hàng phát hành: Là thẻ thanh toán do các NHTM phát hành để giúp khách hàng sử dụng tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. Loại thẻ này đang đƣợc sử dụng phổ biến nhất hiện nay.
Nó không chỉ lƣu hành trong phạm vi quốc gia mà còn có thể lƣu hành trên toàn cầu nhƣ thẻ Visa, Master và một số các loại thẻ khác. Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: Là các loại thẻ du lịch và giải trí do các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành nhƣ Diners Club, Amex,. và cũng lƣu hành trên toàn cầu. Theo tính chất thanh toán của thẻ: Thẻ ghi nợ (Debit card): là loại thẻ đƣợc sử dụng để chi trả hoặc rút tiền mặt trên cơ sở số tiền trong tài khoản tiền gửi của chủ thẻ tại ngân hàng.
Thẻ ghi nợ hoạt động theo nguyên tắc mỗi lần sử dụng ngân hàng sẽ tự động trừ ngay số tiền tƣơng ứng trên tài khoản của chủ thẻ. Để tạo điều kiện cho chủ thẻ trong quá trình giao dịch, ngân hàng phát hành có thể cho phép chủ thẻ chi tiêu hoặc rút tiền mặt vƣợt quá số dƣ trên tài khoản trong một khoảng thời gian nhất định và hình thức này đƣợc gọi là thấu chi. Thẻ tín dụng (Credit card): Là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ trong hạn mức tín dụng tuần hoàn đƣợc cấp và chủ thẻ phải thanh toán toàn bộ các khoản dƣ nợ phát sinh theo qui định. Điều này có nghĩa chủ thẻ đƣợc ngân hàng cấp cho một hạn mức tín dụng nhất định để chi tiêu.
Với hạn mức tín dụng này, chủ thẻ có khả năng chi tiêu trƣớc trả tiền sau. Khoảng thời gian từ khi thẻ đƣợc dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tới lúc chủ thẻ phải trả tiền cho ngân hàng có độ dài phụ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng của các tổ chức khác nhau.