mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là ngƣời mua không cần đến ngân hàng để lấy tiền mà chi cần viết giấy chi trả cho khách hàng, khi khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ đƣợc nhận đƣợc tiền. Chính các tiện ích của việc thanh toán này (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho các doanh nhân. Cung cấp dịch vụ uỷ thác Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính. Nên từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện việc quản lý tài sản và các hoạt động tài chính cho các cá nhân và doanh nghiệp thƣơng mại.
Từ đó ngân hàng tiến hàng thu các khoản phí trên cơ sở giá trị của tài sản đó hay quy mô vốn họ quản lý. Chức năng này của ngân hàng đƣợc gọi là dịch vụ uỷ thác. Ngày nay, dịch vụ uỷ thác đã phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành và uỷ thác đầu tƣ… Tài trợ cho dự án Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong loại này cao song lãi đem lại lớn.
14 Tư vấn tài chính Từ lâu các ngân hàng đã đƣợc yêu cầu thực hiện hoạt động tƣ vấn tài chính, đặc biệt về tiết kiệm và đầu tƣ. Ngày nay, trong danh mục hoạt động của ngân hàng rất nhiều dịch vụ tƣ vấn tài chính đa dạng đƣợc cung cấp, từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài chính cho các cá nhân đến tƣ vấn về các cơ hội thị trƣờng trong và ngoài nƣớc cho các khách hàng kinh doanh của họ. Nhiều khách hàng đã coi ngân hàng nhƣ một chuyên gia tƣ vấn tài chính, thành lập, mua bán sáp nhập doanh nghiệp. Quản lý ngân quỹ Các ngân hàng thực hiện mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và nhiều cá nhân.
Từ đó các ngân hàng đã tạo lập đƣợc mối quan hệ chặt chẽ với các khách hàng của mình. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng các dịch vụ này. Cho thuê thiết bị trung và dài hạn (leasing) Hiện nay, rất nhiều ngân hàng đã tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn mua các thiết bị và cho khách hàng thuê. Thông qua dịch vụ này, các hãng sản xuất bán hoặc cho thuê đƣợc các thiết bị, mà đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn, đồng thời ngân hàng cũng thu đƣợc nguồn lợi không nhỏ.
Đến cuối hợp đồng khách hàng có thể mua lại các máy móc thiết bị đó với giá hợp lý. Giảm sức ép về vốn đầu tƣ ban đầu cho khách hàng mà ngân hàng cũng đầu tƣ vào khoản đảm bảo chắc chắn. Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán. Với mục tiêu cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính phi tín dụng cho phép khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu, các ngân hàng cũng đã bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến ngƣời kinh doanh chứng khoán.
15 Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm. Các dịch vụ bảo hiểm đảm bảo hoàn trả trong trƣờng hợp khách hàng vay vốn bị chết hay tàn phế ngày càng phát triển trong hoạt động của các ngân hàng từ nhiều năm nay. Hiện nay, các ngân hàng thƣờng bảo hiểm cho khách hàng thông qua các liên doanh hoặc các thoả thuận đại lý kinh doanh độc quyền theo đó công ty bảo hiểm đồng ý đặt một văn phòng đại lý tại hành lang của ngân hàng và ngân hàng sẽ nhận một phần thu nhập từ các dịch vụ đó. Với sự phát triển ngày càng nhanh chóng của nền kinh tế, thì các dịch vụ ngân hàng cũng không ngừng phát triển.
Đó cũng chính là con đƣờng duy nhất để có thể tồn tại trong thi trƣờng tài chính đầy tính cạnh tranh hiện nay. Do vậy, bên cạnh những dịch vụ chủ yếu trên các ngân hàng ra sức phát triển những dịch vụ khác ngày càng đa dạng hơn phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng ngân hàng nhƣ: cung cấp các kế hoạch hƣu trí, cung cấp các dịch vụ quỹ hỗ trợ tƣơng hỗ (cung cấp các chƣơng trình đầu tƣ một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu hay chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ - tối đa hóa thu nhập hoặc tăng giá trị của vốn), cung cấp các dịch vụ ngân hàng đầu tƣ và ngân hàng bán buôn… ngày càng thoả mãn mọi nhu cầu đa dạng của khách hàng. Đặc điểm của dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Thứ nhất, Dịch vụ có tính vô hình: Chúng ta không thể nhìn thấy hay biểu thị một dịch vụ. Một khách hàng có thể bỏ tiền mua một dịch vụ song thƣờng không có một biểu hiện vật chất cụ thể nào cho dịch vụ đó.
Dịch vụ chuyển tiền đƣợc khách hàng yêu cầu ngân hàng tiến hành song khi họ trả phí không bao giờ có kết quả vật chất cụ thể để biểu hiện. Những ví dụ cũng có tính tƣơng tự nhƣ với dịch vụ bảo hiểm, tiết kiệm và đầu tƣ chúng chỉ mang lại thu nhập tại một thời điểm trong tƣơng lai. 16 Thứ hai, Dịch vụ mang tính thống nhất. Nói chung, chúng ta có thể chia thành nhiều phần trong quá trình tạo và tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ.
Hầu hết các hàng hóa bình thƣờng đều đƣợc sản xuất và sau đó đƣợc bán cho ngƣời tiêu dùng, ngƣợc lại dịch vụ thƣờng đƣợc bán trƣớc khi khách hàng có nhu cầu và đặc biệt là lúc đó có sự hiện diện của khách hàn g. Thứ ba, Dịch vụ gồm nhiều yếu tố cấu thành. Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đƣợc tiến hành đồng thời với sự tham gia của ba yếu tố: Một là, khách hàng tham gia vào quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Khách hàng sẽ thể hiện nhu cầu của mình đối với sản phẩm, đồng thời đánh giá chất lƣợng của sản phẩm; Hai là, nhân viên giao dịch trực tiếp với khách hàng, là hình ảnh của ngân hàng; Ba là, cơ sở vật chất, trang thiết bị tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ đến với khách hàng.
Đặc biệt, chất lƣợng dịch vụ thƣờng phụ thuộc nhiều vào chất lƣợng quản trị nhân sự. Chính vì thế khả năng chất lƣợng dịch vụ có tính đa dạng rất cao. Ví dụ: Chất lƣợng của dịch vụ tín dụng đối với một khách hàng phụ thuộc rất nhiều vào cán bộ ngân hàng thực hiện dịch vụ đó. Để giảm đi tính đa dạng không cần thiết về chất lƣợng dịch vụ chúng ta có thể áp dụng hệ thống phân phối dịch vụ đƣợc chuẩn hóa nhƣ việc dùng máy ATM chẳng hạn.
Thứ tư, Sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cung ứng mang “đơn điệu”, khách hàng nhƣ nhau cùng có nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng cung ứng (nhận gửi, cho vay và các dịch vụ tài chính phi tín dụng khác). Việc tạo ra sản phẩm độc đáo đối với hoạt động ngân hàng là rất khó khăn. Thứ năm, Sản phẩm dịch vụ Ngân hàng mang tính công cộng, xã hội cao, bởi vậy bất cứ sự sơ xuất nhỏ nào trong cung ứng sản phẩm (ví dụ nhƣ hiện tƣợng thiếu tiền mặt hoặc thanh toán có sự nhầm lẫn…) đều có khả năng gây mất uy tín của ngân hàng. Năm đặc trƣng nêu trên làm cho dịch vụ tài chính phi tín dụng thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau.
Yếu tố chính của chiến lƣợc sản phẩm đối 17 với bất cứ tổ chức dịch vụ tài chính phi tín dụng nào là nhận thức rõ ràng về chúng đồng thời cố gắng có những biện pháp giải quyết thỏa đáng. Một chiến lƣợc thƣờng đƣợc sử dụng là họ tìm cách biểu hiện dịch vụ cho dễ hiểu hơn thông qua việc dùng các loại phƣơng tiện phụ (thẻ tín dụng, các loại thẻ, séc…) hoặc phƣơng tiện khác nhƣ phát triển mạng lƣới phân phối… 1. Phát triển dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Quan niệm về sự phát triển dịch vụ tài chính phi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Các nhà nghiên cứu đã đƣa ra định nghĩa về phát triển kinh tế: “Phát triển kinh tế có thể hiểu đó là quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.
Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lƣợng (tăng trƣởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội”4. Định nghĩa trên đƣợc phân tích bao gồm: - Sự phát triển bao gồm cả sự tăng thêm về khối lƣợng của cải vật chất dịch vụ và sự biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội. - Tăng thêm quy mô sản lƣợng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội là hai mặt có mối quan hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập của lƣợng và chất. - Sự phát triển là một quá trình tiến hoá theo thời gian do những nhân tố nội tại của bản thân nền kinh tế quyết định.
Có nghĩa là ngƣời dân của quốc gia đó phải là những thành viên chủ yếu tác động đến sự biến đổi kinh tế của đất nƣớc. Họ là những ngƣời tham gia vào quá trình hoạt động kinh tế và đƣợc hƣởng những lợi ích do quá trình này đem lại. - Kết quả của sự phát phát triển kinh tế - xã hội là kết quả của quá trình vận động khách quan, còn mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội đề ra là thể hiện sự tiếp cận tới các kết quả đó. 4 Trƣờng ĐH KTQD - Khoa Kinh tế phát triển - Bộ môn Kinh tế phát triển - tập 1 - Nxb Thống Kê - 2007 18 - Trên cơ sở định nghĩa về phát triển kinh tế nhƣ vậy, đề tài khi đặt vấn đề nghiên cứu sự phát triển của các dịch vụ tài chính phi tín dụng muốn đề cập đến sự tăng lên, sự tiến bộ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu của các dịch vụ tài chính phi tín dụng mà một ngân hàng thƣơng mại cung cấp cho đối tƣợng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.