Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về dịch vụ phi tín dụng tại các ngân hàng thương mại và mô hình nghiên cứu Chương 3: Thực trạng phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Agribank Chi nhánh huyện Cờ Đỏ Cần Thơ II Chương 4: Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu Chương 5: Giải pháp và kiến nghị 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Tổng quan về dịch vụ phi tín dụng 2. Dịch vụ ngân hàng Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh. Có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ nhưng theo Valarie A Zeithaml và Mary J Bitner (2000) thì “dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng” “Dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình, nhưng không cần thiết, diễn ra trong các mối tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa và/hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ được cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vấn đề của khách hàng” (Gronroos, 1990, dẫn theo Paul Lawrence Miner, 1998).
Theo Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) khái niệm về dịch vụ tài chính “là bất kỳ dịch vụ có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)”. Như vậy có thể thấy rằng, dịch vụ ngân hàng được bao hàm trong dịch vụ tài chính. Theo khái niệm đưa ra của WTO, dịch vụ ngân hàng được hiểu là bất cứ dịch vụ nào được ngân hàng cung cấp.
Dịch vụ ngân hàng được hiểu là dịch vụ tài chính do ngân hàng cung cấp bao gồm dịch vụ huy động vốn, tín dụng, thanh toán, tài chính phái sinh, ngoại hối và các dịch vụ khác. Trong hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS) thì DVNH gắn liền với hoạt động ngân hàng như: tiền gửi, cho vay, cho thuê tài chính, chuyển tiền, thanh toán thẻ, séc, bảo lãnh và cam kết, mua bán các công cụ thị trường tài chính, phát hành chứng khoán, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản, dịch vụ thanh toán và bù trừ, cung cấp và chuyển giao các thông tin tài chính, dịch vụ tư vấn và trung gian hỗ trợ tài chính khác. Ở Việt Nam, hoạt động ngân hàng chịu sự điều tiết của luật TCTD 2010. Tuy nhiên luật lại không đưa ra định nghĩa và giải thích như thế nào DVNH mà chỉ đề cập đến thuật ngữ hoạt động ngân hàng, cụ thể trong chương 4 - luật các 10 TCTD 2010 đề cập đến hoạt động ngân hàng của NHTM bao gồm các hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Luật Các Tổ Chức Tín Dụng (2010), Điều 98 quy định hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại gồm: Nhận tiền gửi các loại; phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu; cấp tín dụng; mở tài khoản thanh toán cho khách hàng; cung ứng các phương tiện thanh toán; cung ứng các dịch vụ thanh toán. Nguyễn Đăng Dờn (2012), Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM gồm nghiệp vụ nguồn vốn, nghiệp vụ huy động vốn từ nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội và nghiệp vụ thanh toán. Nghiệp vụ sử dụng vốn, là nghiệp vụ cho vay của ngân hàng với các tổ chức, cá nhân trong xã hội từ các nguồn vốn khác nhau. Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện một số nghiệp vụ trung gian khác như: dịch vụ kho quỹ, dịch vụ sản phẩm giá trị gia tăng, … Nguyễn Minh Kiều (2009), Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán.
Nhìn chung hoạt động kinh doanh ngân hàng bao gồm các hoạt động kinh doanh được Nhà nước quy định, sử dụng nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động để cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ khác nhằm mục tiêu đêm về lợi nhuận cho ngân hàng. Qua những phân tích trên, chúng ta có thể hiểu DVNH bao gồm: là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán của hệ thống ngân hàng cung ứng cho nền kinh tế. Khác với sản phẩm dịch vụ khác, sản phẩm dịch vụ ngân hàng có một số đặc điểm như: sản phẩm dịch vụ có tính vô hình, tức là không phải là một vật có thể quan sát hoặc nắm giữ chúng được; có tính không thể tách biệt giữa tạo dựng và phân phối sản phẩm dịch vụ, quá trình cung cấp và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ ngân hàng xảy ra một cách đồng thời, đặc biệt là có sự tham gia trực tiếp của khách hàng vào quá trình phân phối sản phẩm dịch vụ; Sản phẩm dịch vụ ngân hàng có tính không ổn định và khó xác định chất lượng sản phẩm; tính phức tạp của sản phẩm dịch vụ ngân hàng, đối với sản phẩm dịch vụ khác chúng ta có thể hình dung ngay ra nó, riêng sản phẩm dịch vụ ngân hàng đòi hỏi người sử dụng nó phải có hiểu biết nhất định về nó; sản phẩm dịch vụ ngân hàng dễ bị sao chép vì không được bảo hộ những phát minh sáng chế nên nó rất dễ bị 11 các ngân hàng sao chép lẫn nhau, do đó chu kỳ sống của sản phẩm thường rất ngắn. Dịch vụ phi tín dụng a.
Khái niệm về dịch vụ phi tín dụng Dịch vụ phi tín dụng: là toàn bộ sản phẩm dịch vụ ngân hàng mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng không bao gồm sản phẩm dịch vụ tín dụng. Theo từ điển thuật ngữ ngân hàng của Nhà xuất bản giáo dục Barron, xuất bản lần thứ 5 của Thomas P.Fitch (trích Phạm Anh Thủy 2013) định nghĩa về dịch vụ phi tín dụng: Dịch vụ phi tín dụng non credit banking services) là các dịch vụ ngân hàng dựa trên lệ phí không liên quan đến việc mở rộng tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho các ngân hàng đại lý hoặc khách hàng doanh nghiệp. Thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng có thể là một nguồn thu đáng kể cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính. Theo tài liệu dự án” Khảo sát và đánh giá dịch vụ phi tín dụng ngân hàng Việt Nam” của tổ chức Deloitte Touche Tohmatsu, dịch vụ phi tín dụng là bất cứ dịch vụ hoặc sản phẩm nào cung cấp bởi một ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính mà không phải là dịch vụ tín dụng.
Dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ được ngân hàng cung cấp tới khách hàng đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập nhất định, không bao gồm dịch vụ tín dụng. Theo các chuyên gia kinh tế của học viện nghiên cứu Châu Á - AIT cho rằng, DVPTD là cung cấp trực tiếp sản phẩm, DVNH tới từng cá nhân riêng lẻ, các DNNVV thông qua mạng lưới chi nhánh truyền thống hay thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và CNTT. Theo Phạm Anh Thủy 2013, Dịch vụ phi tín dụng là các dịch vụ ngân hàng mang lại nguồn thu cho các ngân hàng ngoài nguồn thu từ lãi tín dụng thể hiện qua các khoản thu từ dịch vụ thanh toán, dịch vụ kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ uỷ thác và quản lý tài sản, dịch vụ thông tin tư vấn, dịch vụ bảo hiểm… b. Đặc điểm của dịch vụ phi tín dụng Cũng giống như dịch vụ, dịch vụ phi tín dụng mang đầy đủ những thuộc tính chung của dịch vụ, cụ thể: - Tính vô hình: 12 Tính chất này xuất phát từ bản chất của dịch vụ.
Dịch vụ không thể cảm nhận trước khi mua. Khách hàng khi sử dụng dịch vụ của ngân hàng sẻ khó biết được chất lượng của dịch vụ trước tiêu dùng, chỉ có thể đánh giá chất lượng dịch vụ sau khi đã mua và sử dụng dịch vụ thông qua các tiện ích mà dịch vụ đó mang lại. Quá trình cung ứng dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời: Dịch vụ của ngân hàng cung cấp thường không có sản phẩm dở dang, không thể dự trữ để khi thị trường cần thì đưa ra tiêu thụ như hàng hoá vì quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời. Dịch vụ của ngân hàng chỉ bắt đầu khi khách hàng đến ngân hàng đưa ra các yêu cầu được phục vụ và kết thúc khi yêu cầu đó được đáp ứng.
Tính vô hình là một đặc trưng của dịch vụ đã tạo ra hai vấn đề đặc biệt cho các ngân hàng. Thứ nhất, khi làm cho nhận thức về sản phẩm trở nên khó khăn, chúng đã phức hợp ngay từ đầu quá trình tiêu dùng rắc rối khi mua dịch vụ của ngân hàng. Thứ hai, tính vô hình cũng tự thân các sản phẩm thường không thể trưng bày hoặc phô diễn cho khách hàng đã chứa đựng những vấn đề cho hoạt động quảng cáo và dùng thử sản phẩm. - Tính không đồng nhất: Dịch vụ gắn chặt với người cung cấp dịch vụ, chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như uy tín của doanh nghiệp cung cấp, công nghệ, cá nhân thực hiện dịch vụ (trình độ, kỹ năng…) mà các yếu tố này lại thường xuyên biến động do đó mà chất lượng dịch vụ cũng thường xuyên bị thay đổi.
Ngoài những đặc trưng chung của DVNH thì các dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng còn có những đặc trưng riêng: doanh thu, chi phí cho các dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng không bao gồm lãi phải trả từ việc vay vốn của khách hàng. Việc cung cấp các dịch vụ phi tín dụng cho khách hàng không tuân theo nguyên tắc hoàn trả. Tính không tách rời: Tính không tách rời hình thành từ việc dịch vụ đang được xử lý hoặc trải nghiệm. Do đó dịch vụ trở thành một hành động xảy ra cùng lúc với sự hợp tác giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp ngân hàng.