phần Mở đầu và Kết luận, bố cục của luận văn bao gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ NHĐT tại Ngân hàng thƣơng mại. xvii Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ NHĐT tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam CN Tân Bình. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ NHĐT tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam CN Tân Bình. 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan dịch vụ NHĐT 1.1 Khái niệm dịch vụ NHĐT Hiện nay có khá nhiều quan niệm khác nhau về dịch vụ NHĐT: Theo Burr Ridge (1996) thì dịch vụ NHĐT là kết nối điện tử giữa NH và KH để chuẩn bị, quản lý và kiểm soát giao dịch tài chính.
BIS (1998) thì cho rằng dịch vụ NHĐT bao gồm việc cung ứng các sản phẩm và DV NH bán lẻ có giá trị nhỏ thông qua các kênh điện tử cũng nhƣ các khoản chuyển tiền có giá trị lớn và các DV NH bán buôn qua các kênh điện tử. (1999) đều cho rằng dịch vụ NHĐT đề cập đến một số dạng DV mà thông qua đó KH có thể yêu cầu cung cấp thông tin và thực hiện hầu hết các DV NH bán lẻ thông qua máy tính hoặc điện thoại. Theo Haque và cộng sự (2009) thì dịch vụ NHĐT sử dụng hệ thống internet nhƣ là kênh phân phối, qua đó, thực hiện DV NH tự động nhƣ: thanh toán hóa đơn, chuyển tiền, kiểm tra và xem số dƣ tài khoản, thanh toán các khoản thế chấp và mua các công cụ tài chính và chứng chỉ tiền gửi. Salehi & Alipour (2010) thì cho rằng dịch vụ NHĐT là việc cung cấp tự động các sản phẩm và DV NH trực tiếp tới KH thông qua các kênh tƣơng tác truyền thông điện tử; Herington & Weaven (2003) cho rằng NH trực tuyến là cổng thông tin điện tử mà qua đó KH có thể sử dụng DV NH khác nhau, từ thanh toán hóa đơn cho đến thực hiện khoản đầu tƣ.
Sadaf Firdous & Rahela Farooqi (2017) cho rằng DV NH trực tuyến là hệ thống thanh toán điện tử có khả năng cho phép KH của tổ chức tài chính để kiểm 2 soát giao dịch tài chính trên trang mạng do tổ chức đó quản lý, nhƣ NH bán lẻ, NH ảo, hiệp hội tín dụng. NH trực tuyến còn có thể hiểu là NHĐT, NH ảo. Mahmood Shah, Steve Clarke (2009) thì cho rằng DVNHĐT mô tả tất cả các dạng cung cấp dịch vụ tài chính từ một tổ chức tới KH của họ. Những KH đó có thể là cá nhân hoặc các doanh nghiệp khác Bên cạnh đó, không ít ngƣời có cách hiểu NHĐT là thực hiện các giao dịch thông qua tài khoản NH trên internet mà không phải đến NH.
Hay hiểu theo nghĩa rộng hơn, đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động DV NH truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông. Một số ngƣời lại đồng nhất DV Internet Banking (i-Banking) với dịch vụ NHĐT (dịch vụ NHĐT). Trên thực tế, DV dịch vụ NHĐT có nội hàm rộng hơn i-Banking rất nhiều: Nếu nhƣ i-Banking chỉ đơn thuần là việc cung ứng các DV NH thông qua mạng internet, thì dịch vụ NHĐT còn bao hàm cả việc cung cấp các DV thông qua một số phƣơng tiện khác nhƣ: fax, điện thoại, ATM, POS,. Tại Việt Nam hiện này cũng có một số quan niệm khác nhau về dịch vụ NHĐT, chẳng hạn: Theo Hoàng Nguyên Khai (2013) dịch vụ NHĐT hiểu theo nghĩa trực quan đó là một loại dịch vụ ngân hàng cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch tài chính mà không cần phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng hoặc bên trung gian nào khác.
Hiểu theo nghĩa rộng hơn là một công cụ tiện ích cung ứng các sản phẩm dịch vụ truyền thống kết hợp với các sản phẩm bán lẻ mới thông qua các phƣợng tiện điện tử và các kênh truyền thông tƣơng tác khác. Theo quyết định số 35/2006/QĐ-NHNN ngày 31/07/2006 của ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, hoạt động NHĐT là hoạt động ngân hàng đƣợc thực hiện qua các kênh phân phối điện tử. Kênh phân phối điện tử là hệ thống các phƣơng tiện điện tử và quy trình tự động xử lý giao dịch đƣợc các tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng. Theo khoản 6 và khoản 10 điều 4 của Luật giao dịch điện tử Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005, giao dịch điện tử là giao dịch đƣợc thực hiện bằng phƣơng 3 tiện điện tử.
Trong đó phƣơng tiện điện tử là các phƣơng tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học điện tử hoặc công nghệ tƣơng ứng. Mạng viễn thông bao gồm mạng internet, mạng điện thoại, mạng vô tuyến, mạng internet, mạng extranet. Ngân hàng Nhà nƣớc ban hành nhiều văn bản quy phạm hƣớng dẫn các tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán trong việc triển khai các dịch vụ NHĐT đảm bảo an toàn bảo mật. Trong thông tƣ số 35/2016/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên Internet.
Dịch vụ ngân hàng trên Internet (Internet Banking) là dịch vụ NHĐT và dịch vụ trung gian thanh toán đƣợc các đơn vị cung cấp thông qua mạng Internet. Mọi giao dịch tài chính phải đƣợc xác thực tối thiểu hai yếu tố nhằm bảo mật thông tin khách hàng. Đảm bảo tính sẵn sàng của hệ thống Internet Banking để cung cấp dịch vụ một cách liên tục. Thực hiện kiểm tra, đánh giá an ninh, bảo mật hệ thống Internet Banking để xác định rủi ro, có biện pháp phòng ngừa, xử lý rủi ro trong cung cấp dịch vụ.
Dịch vụ NHĐT là dịch vụ ngân hàng đƣợc cung cấp thông qua phƣơng thức điện tử. Trong đó, phƣơng thức điện tử dùng để chỉ toàn bộ quy trình và hệ thống phƣơng tiện giao dịch điện tử nhƣ máy tính cá nhân, ATM, PDA, điện thoại… hệ thống quản lý và xử lý dữ liệu giao dịch tại các ngân hàng; hệ thống giao tiếp và xử lý giao dịch liên ngân hàng.2 Các sản phẩm dịch vụ NHĐT 1.1 Dịch vụ NHĐT qua hệ thống máy giao dịch tự động (ATM Banking ) ATM hay máy giao dịch tự động là thiết bị viễn thông đƣợc máy tính hóa của các ngân hàng nhằm cung cấp một phƣơng thức giao dịch ngân hàng an toàn trong môi trƣờng công cộng mà không cần đến giao dịch viên. Thực hiện việc nhận dạng khách hàng thông qua thẻ ATM (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng) hay các thiết bị tƣơng thích và giúp khách hàng kiểm tra tài khoản, rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ.2 Dịch vụ NHĐT qua hệ thống chấp nhận thẻ (POS Banking) POS Banking là phƣơng thức cung cấp dịch vụ ngân hàng qua hệ thống máy POS tại các điểm bán hàng (POS: Point of sale). Máy POS dùng để cung cấp dịch vụ NHĐT là hệ thống điện tử dùng tại các điểm bán hàng có khả năng đọc thẻ và đƣợc nối tới một trung tâm dữ liệu tài khoản để thực hiện chức năng thanh toán bằng thẻ.
Chức năng chính của POS Banking là cung cấp dịch vụ thanh toán qua thẻ cho việc mua bán hàng hóa dịch vụ. Tiện ích mà POS mang lại cho chủ thẻ là không phải mang tiền mặt mỗi khi đi mua sắm, tránh việc trả lại tiền không đủ tiêu chuẩn lƣu thông lƣu hành; các chƣơng trình khuyến mãi giảm giá do các ngân hàng do và đơn vị chấp nhận thẻ tổ chức.3 Dịch vụ NHĐT qua điện thoại cố định Call Center: Do quản lý dữ liệu tập trung nên khách hàng có tài khoản tại bất kỳ chi nhánh nào vẫn có thể gọi về số điện cố định của trung tâm để đƣợc cung cấp mọi thông tin về sản phẩm, dịch vụ, lãi suất, tỷ giá hối đoái. và thông tin tài khoản cá nhân. khách hàng nhấn vào các phím điện thoại theo mã do ngân hàng quy định trƣớc để yêu cầu hệ thống trả lời thông tin cần thiết.
Call Center có thể linh hoạt cung cấp thông tin hoặc trả lời các thắc mắc của khách hàng, hoạt động 24/24. Đặc điểm của Call center là hệ thống này hoàn toàn làm việc tự động dựa trên chƣơng trình đã đƣợc lập trình sẵn. Dịch vụ Call Center cung cấp cho khách hàng một số tiện ích nhƣ: cung cấp tất cả các thông tin về sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng một cách đầy đủ, cập nhật; cung cấp các thông tin hữu ích về các sản phẩm dịch vụ mới, thanh toán hoá đơn và chuyển tiền, tiếp nhận qua điện thoại các khiếu nại, thắc mắc từ khách hàng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng.4 Dịch vụ NHĐT qua điện thoại di động Mobile Banking là loại dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên công nghệ viễn thông không dây của mạng điện thoại di động (Mobile Network) bao gồm việc thực hiện dịch vụ ngân hàng bằng cách kết nối điện thoại di động với trung tâm cung cấp dịch vụ NHĐT (tƣơng tự nhƣ Home Banking) và kết nối internet trên điện thoại di động sử dụng giao thức ứng dụng không dây WAP (Wireless Application Protocol). 5 Một số tiện ích mà dịch vụ Mobile Banking cung ứng cho khách hàng nhƣ: cung cấp các thông tin liên quan đến hoạt động tài khoản cá nhân khách hàng, thực hiện giao dịch thanh toán hóa đơn ( điện, nƣớc, vé máy bay, học phí.), vay thấu chi, kinh doanh chứng khoán, quản lý danh mục đầu tƣ tài chính của khách hàng.
Không chỉ thực hiện chức năng truy cập thông tin hay thực hiện các giao dịch thông thƣờng, khách hàng còn có thể thực hiện chức năng thanh toán. Một trong những hình thức thanh toán trên di động là QR Pay – thanh toán bằng cách quét QR code (Quick response code - mã phản hồi nhanh, mã vạch ma trận). QR Code sẽ đƣợc kết hợp với thanh toán điện tử thay vì chỉ dùng để quét ra thông tin về website, số điện thoại, địa chỉ,… của doanh nghiệp nhƣ trƣớc đây. Ngƣời tiêu dùng có thể mua hàng trên website, shopping tại các trung tâm thƣơng mại, cửa hàng tiện ích,… mà không cần dùng tiền mặt, thẻ ATM hay thẻ Visa, MasterCard.
Hơn thế nữa, với quy trình Mobile Banking, khách hàng còn có thể nhận đƣợc thông tin từ ngân hàng bằng cách gửi tin nhắn yêu cầu đến số điện thoại quy ƣớc của ngân hàng để nhận lại tin nhắn trả lời. Mỗi khi có giao dịch thực hiện trên tài khoản của mình, tổng đài của ngân hàng sẽ tự động gửi tin nhắn thông báo đến điện thoại di động của khách hàng.