CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Khái niệm Dịch vụ NHĐT được hiểu là khả năng khách hàng có thể truy cập từ xa vào các dịch vụ ngân hàng nhằm: thực hiện giao dịch thanh toán, tài chính, đăng ký sử dụng các dịch vụ mới hay các dịch vụ khác do các ngân hàng cung cấp.
Tùy khả năng của mỗi ngân hàng mà khái niệm rộng hay hẹp, phụ thuộc vào việc ứng dụng công nghệ vào các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp đến khách hàng.[9] Như vậy, qua khái niệm ở trên có thể hiểu: dịch vụ NHĐT là dịch vụ ngân hàng được cung cấp bởi hệ thống các ngân hàng thương mại thông qua mạng internet hay mạng viễn thông 1. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử Bao gồm: - Được thực hiện trọn vẹn và đầy đủ bởi các ngân hàng có lợi thế về quy mô. Dịch vụ NHĐT thường áp dụng tại các ngân hàng có lợi thế về quy mô, mạng lưới rộng khắp; đa dạng đối tượng khách hàng, trải dài từ khách hàng cá nhân đến các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế,…; có nền tảng kỹ thuật và thông tin hiện đại. - Gắn liền với các hoạt động hiện hữu tại ngân hàng, dịch vụ NHĐT cho phép các ngân hàng thực hiện tốt các yêu cầu của khách hàng, liên quan trực tiếp đến các dịch vụ tài chính, trung gian mà ngân hàng đang cung cấp - Tính vô hình:“Dịch vụ NHĐT không hữu hình mà là kết quả của một quá trình.
Tuy nhiên, dịch vụ này cũng được thể hiện thông qua một số yếu tố vật chất, bao gồm phương tiện chuyển giao dịch vụ cho khách hàng như trình độ và thái độ của nhân viên, thời gian tác nghiệp. - Tính bất định và khó xác định chất lượng: Dịch vụ NHĐT mang tính cá 8 biệt và phụ thuộc vào một số đối tượng cụ thể là ngân hàng cung cấp dịch vụ, khách hàng sử dụng, đồng thời thời điểm sử dụng dịch vụ. Nhằm đáp ứng nhu cầu tối đa của khách hàng, ngân hàng thường tiến hành cá biệt hóa dịch vụ NHĐT của mình dựa vào việc hiểu rõ nhu cầu của mỗi khách hàng cá biệt.” - Tính không thể tách biệt: quá trình khách hàng sử dụng dịch vụ NHĐT diễn ra đồng thời với quá trình cung cấp dịch vụ của các ngân hàng. Do đó, việc duy trì hoạt động dịch vụ NHCT được hiệu quả, xuyên suốt đồng thời xem trọng hách hàng được xem là yếu tố tối quan trọng.
Kết quả của dịch vụ được quyết định bởi hai chủ thể:“khách hàng và ngân hàng. Do đó, nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, ngoài việc đảm bảo nền tảng kỹ thuật, cung ứng dịch vụ của ngân hàng, ngân hàng còn phải trú trọng đến yếu tố hướng dẫn khách hàng hiểu rõ tính phức tạp của dịch vụ và đồng thời, yêu cầu nhân viên có thái độ phối hợp hỗ trợ khách hàng hoàn tất quá trình sử dụng dịch vụ. - Tính không lưu trữ được: Dịch vụ NHĐT không thể sản xuất ra hình thái vật chất, đồng nghĩa không thể lưu kho bảo quản như các sản phẩm khác. Do đó, thời gian cung ứng dịch vụ đóng vài trò quan trọng trong việc đẩy mạnh phát triển dịch vụ NHĐT thông qua các cách thức cụ thể như: rút ngắn thời gian tác nghiệp, trang bị nền tảng công nghệ hiện đại, bổ túc kiến thức cho đội ngũ nhân viên cung ứng dịch vụ,… Hoạt động dịch vụ NHĐT tử đòi hỏi cơ sở hạ tầng hiện đại, các ngân hàng sẽ không thể triển khai dịch vụ nếu cơ sở vật chất không đáp ứng được trình độ công nghệ của dịch vụ.
Do đó, có thể thấy, dịch vụ NHĐT gắn liền với sự phát triển của công nghệ trong hệ thống ngân hàng.” Như vậy, dịch vụ NHĐT trước hết mang đầy đủ đặc điểm của các hoạt động dịch vụ phi vật chất, đây là đặc điểm để phân biệt sản phẩm dịch vụ với các sản phẩm sản xuất thông thường trong nền kinh tế. Do là sản phẩm phi vật chất, nên sản xuất và cung ứng diễn ra cùng thời điểm. Ngoài ra, dịch vụ ngân hàng điện tử còn có những đặc điểm sau: - Không đòi hỏi sử dụng đến vốn: Theo đó, trong quá trình triển khai dịch vụ NHĐT, ngân hàng không cần phải sử dụng đến nguồn vốn của mình, đây là một ưu thế 9 đối với các ngân hàng có vốn tự tương đói thấp. Từ đó có thể thấy, việc nghiên cứu phát triển các hoạt động dịch vụ NHĐT trở thành vấn đề rất cấp thiết cần hệ thống ngân hàng quan tâm triển khai.
-“Làm tăng thu nhập: Thông qua việc thúc đẩy phát triển dịch vụ NHĐT, ngân hàng thu được lợi ích từ phí dịch vụ, hoa hồng,… Ngoài ra, một số dịch vụ NHĐT không mang lại thu nhập trực tiếp cho ngân hàng nhưng lại là cơ sở để dịch vụ khác được phát triển hoặc tăng tính cạnh tranh của ngân hàng trong việc thu hút khách hàng. - Hàm lượng công nghệ cao: Dịch vụ NHĐT ra đời gắn liền với trình độ khoa học kỹ thuật. Do vậy, dịch vụ NHĐT càng hiện đại càng chứa đựng hàm lượng công nghệ càng cao. Điều này đòi hỏi có thiết bị, công cụ hỗ trợ hiện đại, giảm bớt tác nghiệp thủ công.
- Tính hỗ trợ cao, có mối liên kết chặt chẽ với nhau: Dịch vụ NHĐT ra đời là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của dịch vụ khác. Từ đó, tạo hệ sinh thái giữa đa dạng các dịch vụ trong ngân hàng. Đồng thời, ngân hàng có thể cung cấp các gói dịch vụ phù hợp đa dạng nhu cầu với mỗi khách hàng. - Tỷ trọng nhỏ: Dịch vụ NHĐT hiện tại chỉ là một trong số đa dạng các dịch vụ tài chính do ngân hàng cung cấp.
Về cơ bản, dịch vụ NHĐT giúp hỗ trợ hoạt động cấp tín dụng, đa dạng nguồn thu nhập, đồng thời là lợi ích gia tăng thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ. - Tính tập trung hóa cao: Dịch vụ NHĐT có tính tập trung hóa cao thể hiện qua việc khách hàng chỉ phải mở một tài khoản tại ngân hàng để sử dụng được đa dạng dịch vụ NHĐT tại ngân hàng đó. Việc này không chỉ giúp khách hàng sử dụng dịch vụ NHĐT tiện lợi hơn, mà còn giúp khách hàng giao dịch tại mọi nơi, mọi lúc, tiết kiệm thời gian và chi phí. - Tính rủi ro thấp: Do dịch vụ NHĐT đa dạng, dẫn tới rủi ro được phân tán bảo đảm tính an toàn cho ngân hàng trong quá trình cung ứng dịch vụ.
Do đó, thông qua việc phát triển dịch vụ NHĐT, ngân hàng sẽ hạn chế được một số rủi ro cơ bản như rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường” 10 1. Các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử Các dịch vụ ngân hàng điện tử tại NHTM Việt Nam ngày càng trở nên đa dạng và đồng đều hơn với việc triển khai của hầu hết các NHTM, tạo cho khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn các dịch vụ phù hợp với nhu cầu của mình. Dịch vụ thẻ Dịch vụ thanh toán thẻ là hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thông qua việc sử dụng kết nối giữa thiết bị POS hoặc mạng internet với thẻ của ngân hàng để thực hiện các giao dịch thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ. Qua đó, hệ thống sẽ tự động trừ tiền từ tài khoản của người mua để trả cho người bán thông qua việc thanh toán bù trừ giữa ngân hàng phát hành thẻ và ngân hàng thanh toán thẻ thông qua các Tổ chức chuyển mạch thẻ trong nước như SmartLink, Banknet hay Tổ chức thẻ quốc tế như Visa hay MasterCard.
Sử dụng hình thức thanh toán thẻ qua POS này, chủ thẻ có thể thanh toán tiền hàng hóa dịch tại bất kỳ điểm chấp nhận thẻ nào hoặc rút tiền mặt tại các điểm giao dịch của các ngân hàng có lắp đặt thiết bị POS. Các máy POS thường được lắp đặt tại các siêu thị, nhà hàng, trung tâm thương mại, phòng vé máy bay. Ngoài ra, trên thiết bị POS, khách hàng cũng có thể thực hiện các giao dịch ứng tiền mặt, chuyển khoản, vấn tin, in sao kê như trên máy ATM. Với sự phát triển ngày càng đa dạng của thương mại điện tử, các hình thức mua sắm online cũng ngày càng phát triển và phổ biến rộng rãi.
Chỉ với một chiếc thẻ thanh toán, khách hàng truy cập các trang mua sắm online để lựa chọn hàng hóa dịch vụ và thanh toán bằng thẻ một cách đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng nhờ hệ thống kết nối giữa nhà cung cấp dịch vụ đó với các tổ chức chuyển mạch thẻ như Banknet, Smartlink nếu là mua sắm ở phạm vi trong nước hay các tổ chức thẻ quốc tế như Visa, MasterCard nếu là mua sắm online ở các website nước ngoài. Thế giới như thu nhỏ lại và gần hơn khi khách hàng có thể ở Việt Nam nhưng vẫn mua được những món hàng đang bán tại Mỹ, Anh, Đức, Pháp…thông qua các dịch vụ kinh doanh thương mại điện tử trực tuyến trên mạng internet. Các loại thẻ thanh toán do các Ngân hàng TMCP ở Việt Nam phát hành rất phong phú và đa dạng với nhiều đặc điểm khác nhau. Căn cứ theo các đặc điểm và 11 tính chất của thẻ thanh toán, ta có thể phân loại theo các cách khác nhau như sau: Nếu phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ thì thẻ thanh toán bao gồm: thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ.
Trong đó: - Thẻ tín dụng (Credit card) là loại thẻ thanh toán cho phép chủ thẻ thanh rút tiền trong hạn mức tín dụng hoặc toán tiền hàng hóa, dịch vụ do ngân hàng phát hành thẻ cấp theo Hợp đồng sử dụng thẻ. Với loại thẻ này, chủ thẻ được cấp một hạn mức tín dụng theo hình thức tín chấp hoặc ký quỹ. Chủ thẻ không phải trả tiền ngay khi sử dụng thẻ mà chỉ thanh toán sau khi có bảng sao kê thẻ. Vì vậy một cách hiểu đơn giản về thẻ tín dụng đó là thẻ chi tiêu trước, trả tiền sau và phổ biến sử dụng để thanh toán chi tiêu hàng hóa dịch vụ.[12] - Thẻ ghi nợ (Debit card) là“loại thẻ mà chủ thẻ chỉ được phép chi tiêu trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi của mình hiện có tại ngân hàng phát hành thẻ.
Khi chủ thẻ thực hiện giao dịch rút tiền hay mua sắm hàng hóa, dịch vụ, giá trị giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ, thông qua các thiết bị ATM hoặc POS.