Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng thương mại; Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng thương mại Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh thị xã Duy Tiên; Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng thương mại Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh thị xã Duy Tiên. 9 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm dịch vụ ngân hàng điện tử 1.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử Trước hết, để tìm hiểu khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm thương mại điện tử (TMĐT) do dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) được xuất phát từ khái niệm thương mại điện tử vì ngân hàng điện tử chính là tên gọi của thương mại điện tử trong lĩnh vực ngân hàng. Theo Luật mẫu về thương mại điện tử (1996): “TMĐT là việc sử dụng thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu trong khuôn khổ các hoạt động thương mại” và “Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi đi tiếp nhận hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử, quang học và các phương tiện tương tự, bao gồm, nhưng không hạn chế ở, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), thư điện tử, điện tín, điện báo hoặc fax”. TMĐT là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại bằng những phương tiện điện tử trên môi trường điện tử nhằm kết hợp người bán với người mua. Nó tích hợp dữ liệu, liên lạc điện tử và dịch vụ bảo mật để thuận lợi cho công việc kinh doanh.TMĐT vẫn mang bản chất như các hoạt động thương mại truyền thống.Tuy nhiên, thông qua các phương tiện điện tử mới, các hoạt động thương mại được tiến hành nhanh hơn, giúp tiết kiệm chi phí và mở rộng không gian kinh doanh.
TMĐT ngày càng là một phương thức kinh doanh hiệu quả kể từ khi Internet hình thành và phát triển. Dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) là một dạng của TMĐT ứng dụng 10 trong hoạt động ngân hàng. Dịch vụ NHĐT hiểu theo nghĩia trực quan đó là một loại dịch vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng. Hiểu theo nghĩa rộng hơn đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông.
Hiện nay có một số định nghĩa về dịch vụ NHĐT như sau: Phan Thị Thu Hà (2013) cho rằng: “Dịch vụ NHĐT được hiểu là dịch vụ, các sản phẩm và dịch vụ truyền thống được phân phối trước đây trên các kênh mới như Internet, di động, gọi. Dịch vụ ngân hàng điện tử tồn tại dưới hình thức: ngân hàng trực tuyến, Chỉ tồn tại dựa trên môi trường Internet, cung cấp dịch vụ 100% qua môi trường mạng”. Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2006 đưa ra định nghĩa: “Các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối điện tử (Internet và các thiết bị truy cập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động,.) được gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử”. Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 có hiệu lực từ ngày 10 tháng 01 năm 2011 đưa ra định nghĩa: “Dịch vụ ngân hàng điện tử là những dịch vụ được ngân hàng cung cấp cho khách hàng dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại, cho phép khách hàng có thể truy nhập từ xa vào một ngân hàng nhằm thực hiện một số giao dịch với ngân hàng hoặc với các khách hàng khác thông qua các phương tiện thông tin hiện đại mà không cần phải đến quầy giao dịch”.
Đây cũng là khái niệm được sử dụng chính trong luận văn. 11 Từ khái niệm trên có thể hiểu dịch vụ NHĐT có thể bao gồm từ những sản phẩm dịch vụ truyền thống như nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán hóa đơn … cho đến việc phát hành, cung ứng và chấp nhận thanh toán tiền điện tử. Tất cả những dịch vụ này đều có điểm chung ở bản chất của kênh phân phối mà qua đó khách hàng tiếp cận được với các sản phẩm dịch vụ. Dù đó là Internet banking, telephone banking, hay mobile banking và sử dụng hệ thống mạng đóng (là mạng hạn chế tiếp cận trong phạm vi những người tham gia thông qua các thỏa thuận về điều kiện thành viên) hay mạng mở (là mạng không hạn chế và không có những yêu cầu về tư cách thành viên) thì đều có một điểm chung là sử dụng các kênh phân phối điện tử.
Đặc điểm dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ ngân hàng điện tử có một số đặc điểm sau: - Nhanh chóng và thuận tiện: Dịch vụ NHĐT là một kênh giao dịch có thể giúp khách hàng liên lạc với ngân hàng một cách nhanh chóng, dễ dàng, tại bất cứ thời điểm nào (24 giờ, 7 ngày trong tuần) và ở bất cứ nơi đâu. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với những người có ít thời gian để đến ngân hàng giao dịch, các khách hàng vừa, nhỏ, khách hàng cá nhân có số tiền giao dịch không quá lớn hoặc phát sinh các giao dịch cần đáp ứng tức thời. - Tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu: Chi phí cho kênh giao dịch dịch vụ NHĐT được đánh giá là có mức rất thấp so với các kênh giao dịch truyền thống, từ đó góp phần tăng doanh thu hoạt động cho ngân hàng. - Mở rộng phạm vi hoạt động và tăng khả năng cạnh tranh: Dịch vụ NHĐT là một giải pháp của NHTM nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của NHTM.
Một điều hết sức quan trọng khác, dịch vụ ngân hàng điện tử giúp 12 cho các NHTM thực hiện được chiến lược toàn cầu hóa mà không nhất thiết phải mở thêm chi nhánh trong nước cũng như nước ngoài. Dịch vụ ngân hàng điện tử còn là một công cụ quảng bá thương hiệu đắc lực cho các NHTM. - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Xét dưới góc độ kinh doanh, dịch vụ NHĐT là công cụ hữu hiệu giúp các NHTM nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Thông qua hệ thống điện tử, giao dịch của khách hàng được thực hiện một cách nhanh chóng, hiệu quả giúp luồng tiền, hàng hóa di chuyển nhanh và chính xác.
- Tăng khả năng chăm sóc và thu hút khách hàng: Chính nhờ sự tiện ích khai thác được từ hệ thống công nghệ thông tin, phần mềm, nhà cung cấp dịch vụ NHĐT đã thu hút, làm hài lòng khách hàng, giúp ngân hàng gia tăng thêm số lượng khách hàng truyền thống, từ đó có nhiều chính sách ưu đãi hơn nữa đối với các khách hàng thân thuộc này. - Cung cấp dịch vụ trọn gói: Điểm đặc biệt này của dịch vụ NHĐT tạo nên nét riêng đối với các dịch vụ thương mại điện tử khác và là lợi thế cực kì quan trọng của dịch vụ ngân hàng điện tử. Theo đó, khi các ngân hàng liên kết với các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính khác để đưa ra các gói sản phẩm tiện ích nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của một khách hàng hay của nhóm khách hàng, vừa tăng tính tiện lợi cho khách hàng, vừa tăng thu nhập nhờ các hoạt động bán chéo sản phẩm. Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử 1.
Đối với nền kinh tế Thứ nhất, tăng khả năng lưu thông tiền tệ, tiền mặt để trong két sẽ không tham gia vào quá trình lưu thông nhưng để trong các ngân hàng thì sẽ tạo ra một nguồn vốn lớn cho nền kinh tế. Nguồn vốn này sẽ tiếp tục được tái đầu tư phát triển kinh tế đất nước, đảm bảo an sinh xã hội, đầu tư cho giáo dục. 13 Thứ hai, quá trình thanh toán không dùng tiền mặt thông qua các dịch vụ ngân hàng điện tử sẽ giúp Nhà nước giảm được các chi phí khi lưu thông tiền mặt: chi phí in ấn, chi phí bảo quản và vận chuyển tiền mặt, chống lạm phát. Thứ ba, việc thanh toán qua ngân hàng sẽ minh bạch thu - chi của các doanh nghiệp nên hạn chế được việc trốn lậu thuế.
Đồng thời, việc trả lương qua thẻ ATM và thanh toán qua ngân hàng sẽ kiểm soát được thu nhập các cá nhân hạn chế được tình trạng tham nhũng. Đối với ngân hàng Thứ nhất, tạo điều kiện cho hoạt động vốn của ngân hàng: Việc sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử đòi hỏi các khách hàng phải mở tài khoản và duy trì số dư trong tài khoản từ đó ngân hàng có thể sử dụng tạm thời các số dư đó vào trong các hoạt động khác của mình. Thứ hai, thúc đẩy quá trình cho vay thông qua chức năng ghi nợ đối với các tài khoản của khách hàng một số tiền nhất định khi sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt. Thứ ba, giúp ngân hàng thực hiện chức năng tạo tiền: việc thanh toán thông qua các dịch vụ ngân hàng điện tử bản chất nó không cần dùng đến tiền, mà Ngân hàng có thể sử dụng lệnh chi vào trong các hoạt động đó.
Đối với khách hàng Thứ nhất, tạo ra sự tiện ích: có thể lựa chọn nhiều phương thức thanh toán phù hợp với thời gian, công việc người sử dụng dịch vụ. Thứ hai, sử dụng hình thức thanh toán qua thẻ ngân hàng vẫn thanh toán cho khách hàng những hóa đơn mà quá số dư trong tài khoản ngân hàng của mình (nếu khách hàng có thẻ tín dụng ). Thứ ba, Tiết kiệm thời gian: khi hệ thống hạ tầng viễn thông phát triển thì các cá nhân có thể giao dịch qua internet, mobile,… mà không cần đến các 14 cửa hàng hay siêu thị. Quá trình thanh toán được thực hiện qua hệ thống thanh toán điện tử.
Như vậy, các tổ chức hoặc cá nhân có thể giao dịch mà không phải mất nhiều thời gian, chi phí đi lại giao dịch.