Chương 1: Tổng quan về Phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử của Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng Phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. 9 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ là một khái niệm phổ biến nên có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ. Theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Như vậy dịch vụ được định nghĩa là bất kỳ hoạt động nào mà một bên có thể cung ứng cho bên kia và sản phẩm cung ứng là vô hình và không tạo ra bất kỳ sự sở hữu về vật chất cụ thể.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử được xuất phát từ khái niệm thương mại điện tử vì ngân hàng điện tử chính là tên gọi của thương mại điện tử trong lĩnh vực ngân hàng. 10 Thương mại điện tử (TMĐT) là kinh doanh trên môi trường điện tử nhằm kết hợp người bán và người mua. Nó tích hợp dữ liệu, liên lạc điện tử và dịch vụ bảo mật để tạo thuận lợi cho công việc kinh doanh. TMĐT là một tập hợp công nghệ, ứng dụng và quy trình kinh doanh nhằm liên kết các tổ chức, khách hàng và cộng đồng thông qua những giao dịch điện tử.
Nhìn chung TMĐT là các dạng của giao dịch thương mại dựa trên quả trình xử lý và chuyển giao số liệu số hóa bao gồm cả văn bản, âm thanh và hình ảnh. Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử như: Theo Trương Đức Bảo (2009), dịch vụ ngân hàng điện tử là dịch vụ của ngân hàng cho phép khách hàng có khả năng truy cập từ xa nhằm: thu thập thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới. Theo cách hiểu này, dịch vụ ngân hàng điện tử chính là một hệ thống phần mềm cho phép khách hàng tìm hiểu hay sử dụng dịch vụ ngân hàng thông qua việc kết nối mạng máy vi tính của mình với ngân hàng. Theo Phạm Thu Hương (2015), dịch vụ ngân hàng điện tử là các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối (Internet và các thiết bị truy nhập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động…) được gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử.
Theo Đỗ Văn Hữu (2005), Dịch vụ Ngân hàng điện tử là một trong những ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm hỗ trợ khách hàng thực hiện các giao dịch truy vấn, chuyển khoản và thanh toán trực tuyến mọi lúc, mọi nơi một cách an toàn, nhanh chóng, thuận tiện và bảo mật nhất. Theo khoản 6 và khoản 10 điều 4 Luật giao dịch điện tử được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2010 phương tiện điện tử là các phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ thông tin điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang 11 học điện tử hoặc công nghệ tương ứng. Mạng viễn thông bao gồm mạng Internet, mạng điện thoại, mạng vô tuyến, mạng Intranet, mạng Extranet… (Quốc hội, 2010). Theo Nguyễn Thị Quy (2008), Dịch vụ Ngân hàng điện tử là khách hàng có thể thực hiện giao dịch ở bất cứ nơi đâu với sự thuận tiện nhất, an toàn và bảo mật.
Dịch vụ Ngân hàng điện tử cho phép bạn xem số dư tài khoản, thực hiện chuyển khoản, mở tài khoản tiết kiệm trực tuyến hoặc thanh toán hóa đơn… ngay tại nhà, tại nơi làm việc hoặc ngay cả khi bạn đang đi du lịch Như vậy, có thể hiểu dịch vụ ngân hàng điện tử là một loại dịch vụ mà khách hàng có thể thực hiện nhưng không phải đến ngân hàng. Hiểu theo nghĩa rộng hơn đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông là một ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng cho phép khách hàng có thể tìm hiểu thông tin hay thực hiện một số giao dịch ngân hàng thông qua phương tiện điện tử dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ ngân hàng điện tử có một số đặc điểm sau: - Dịch vụ ngân hàng điện tử là một quá trình tự động: Thông qua hệ thống công nghệ thông tin, điện tử viễn thông với các chương trình phần mềm, quy trình, lệnh đã được thiết lập từ trước, quá trình tiếp nhận, xử lý và phản hồi mỗi yêu cầu của khách hàng đều được thực hiện một cách tự động. - Dịch vụ ngân hàng điện tử là một quá trình khép kín: Quy trình một giao dịch điện tử bắt đầu khi khách hàng đặt lệnh yêu cầu dịch vụ và kết thúc khi có phản hồi từ phía ngân hàng về trạng thái dịch vụ đang được yêu cầu.
- Dịch vụ ngân hàng điện tử hoạt động liên tục: Dịch vụ hoạt động 24h/ngày và 7 ngày/tuần, khách hàng có thể sử dụng dịch vụ tại bất cứ thời điểm nào trong ngày. Thời gian thực hiện giao dịch phụ thuộc vào các điều kiện của giao dịch và cơ chế vận hành của hệ thống. Ví dụ: một giao dịch rút tiền tại máy ATM có thể được thực hiện ngay lập tức nhưng một giao dịch chuyển sang ngân hàng khác hoặc chuyển tiền quốc tế,… có thể được thực hiện kéo dài sang ngày khác tùy thuộc vào 12 thời điểm khách hàng thực hiện giao dịch. - Dịch vụ ngân hàng điện tử là mạng lưới dịch vụ có tính chất toàn cầu: Các kênh phân phối ngân hàng điện tử đều được tổ chức thành hệ thống mạng.
Một đầu mạng là thiết bị giao dịch được nối với khách hàng như điện thoại, máy ATM, máy tính. Các thiết bị này được nối trực tiếp hoặc gián tiếp đến trung tâm của mạng là hệ thống cơ sở dữ liệu và xử lý thông tin của ngân hàng. Trên thực tế hiện nay chỉ có mạng Internet là mạng toàn cầu, các mạng khác chỉ mang tính quốc gia hoặc khu vực, nội ngành. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử Theo nội dung dịch vụ, dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng thương mại cung ứng cho khách hàng bao gồm: a.
Dịch vụ thẻ Dịch vụ thẻ bao gồm: thẻ thanh toán và thiết bị chấp nhận thẻ thanh toán: - Thẻ thanh toán (Bank Card hoặc Bank Pas): Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán hàng hóa dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức được cấp. Thẻ ngân hàng còn được dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM. Thẻ thanh toán được phân loại gồm các loại sau: +Theo tính chất thanh toán thẻ: Thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và thẻ trả trước. +Theo phạm vi sử dụng: Thẻ nội địa và thẻ quốc tế.
+Theo hạn mức giao dịch, hạn mức tín dụng: Thẻ chuẩn, thẻ vàng, thẻ bạch kim. +Theo chủ thể phát hành: Với hình thức này, gồm có: Thẻ do ngân hàng phát hành và thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành. +Theo chủ thẻ: Thẻ cá nhân, thẻ công ty. - Thiết bị chấp nhận thẻ thanh toán + ATM (Automatic teller machine): ATM là thiết bị ngân hàng giao dịch tự động với khách hàng, thực hiện việc nhận dạng khách hàng thông qua thẻ ATM hoặc các thiết bị tương thích khác, giúp khách hàng kiểm tra vấn tin tài khoản, rút 13 tiền mặt hay chuyển khoản.
Thẻ ATM là một công cụ rút tiền và thanh toán dịch vụ an toàn, sinh lời, thuận tiện giúp chủ thẻ sử dụng tài khoản của mình một cách khoa học. ATM đem lại sự thuận tiện cho khách hàng và ngân hàng nên số lượng ATM ngày càng tăng. EDC/POS (Electronic data capture/ Point of Sale): Đây là hai thiết bị đọc thẻ điện tử được ngân hàng triển khai tại các đơn vị chấp nhận thẻ, giúp khách hàng thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tạm ứng tiền mặt bằng thẻ. Các ngân hàng có thể tận dụng tính năng ưu việt của EDC/POS để mở rộng mạng lưới phục vụ của mình mà không cần phải mở thêm quá nhiều chi nhanh.
Tuy nhiên, POS chỉ giới hạn chủ yếu ở dịch vụ thanh toán chứ không được phong phú như ATM. Tiện ích mà EDC/POS mang lại cho chủ thẻ là không phải mang tiền mặt mỗi khi đi mua sắm, tránh việc trả lại tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông, hơn nữa khách hàng còn được hưởng các chương trình khuyến mãi, giảm giá do các ngân hàng và đơn vị chấp nhận thẻ tổ chức. Ngoài ra, khách hàng còn có thể rút tiền mặt tại máy POS nếu như đơn vị quản lý đồng ý (thường phải trả thêm phí). Chính nhờ những tiện ích này mà POS đã tác động rất lớn đến việc xây dựng thói quen không dùng tiền mặt trong dân chúng.
Trung tâm dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Call Center) Là hệ thống tự động trả lời hoạt động 24/24h, Khách hàng ấn vào các phím trên bàn phím điện thoại theo mã do Ngân hàng quy định trước, để yêu cầu hệ thống trả lời những thông tin cần thiết. Do quản lý dữ liệu tập trung nên khách hàng có tài khoản tại bất kỳ chi nhánh nào vẫn gọi về một số điện thoại cố định của trung tâm này để được cung cấp mọi thông tin chung và cá nhân. Khác với Phone banking chỉ cung cấp các loại thông tin lập trình sẵn, Call center có thể linh hoạt cung cấp thông tin hoặc trả lời các thắc mắc của khách hàng.