CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CHO KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Dịch vụ ngân hàng điện tư 1.1 Khái niệm Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm dịch vụ Ngân hàng điện tử. Theo cách hiểu này, dịch vụ Ngân hàng điện tử chính là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay sử dụng dịch vụ Ngân hàng thông qua việc kết nối mạng máy tính của mình với Ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã định nghĩa về dịch vụ Ngân hàng điện tử là: “Các dịch vụ và sản phẩm Ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối (Internet và các thiết bị truy nhập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động…) được gọi là dịch vụ Ngân hàng điện tử” [8]. Theo Phạm Thu Hương (2012): “Ngân hàng điện tử (E - Banking) - còn được biết đến như là ngân hàng trên mạng (Internet banking), ngân hàng ảo (Virtual banking), ngân hàng trực tuyến (Online banking) và ngân hàng tại nhà (Home banking), bao gồm nhiều hoạt động ngân hàng được thực hiện tại nhà, tại công ty hay trên đường thay vì tại chính ngân hàng” [5] Như vậy, qua các khái niệm đã nêu ở trên có thể hiểu dịch vụ Ngân hàng điện tử là các dịch vụ Ngân hàng được cung cấp thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông.
10 Trong đó, Theo Điều 4, Luật Giao dịch điện tử Việt Nam quy định “Phương tiện điện tử là các phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học điện tử hoặc công nghệ tương ứng. Mạng viễn thông bao gồm mạng Internet, mạng điện thoại, mạng vô tuyến, mạng Intranet, mạng Extranet…” [14] 1.2 Các sản phẩm của dịch vụ ngân hàng điện tử Các dịch vụ ngân hàng điện tử hiện đại có thể là các dịch vụ hoàn toàn mới hoặc cũng có thể là những dịch vụ truyền thống nay được nâng cấp trên nền tảng công nghệ hiện đại. Một số dịch vụ ngân hàng điện tử hiện đại đang được ứng dụng hiện nay: - Dịch vụ cung cấp qua ATM (Automated Teller Machine): Thiết bị ngân hàng giao dịch tự động với khách hàng, thực hiện việc nhận dạng khách hàng thông qua thẻ ATM (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng) hay các thiết bị tương thích, giúp khách hàng kiểm tra tài khoản, rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ. - Thanh toán qua POS (Point of sale): “POS là hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thông qua việc sử dụng kết nối giữa thiết bị đọc thẻ (Card reader) - còn gọi là máy quẹt (cà) thẻ hoặc POS với thẻ ngân hàng” [4].
Qua đó, hệ thống tự động trích tiền từ tài khoản của người mua trả cho người bán ngay. Sử dụng hình thức này chủ thẻ có thể thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ, rút tạm ứng tiền mặt tại bất kỳ điểm chấp nhận thẻ nào. Khách hàng chỉ cần gọi điện thoại về tổng đài của Ngân hàng và làm theo hướng dẫn thì sẽ được cung cấp thông tin về tỷ giá hối đoái, lãi suất, giá chứng khoán, cũng như thông tin cá nhân như số dư tài khoản, liệt kê giao dịch trên tài khoản, các thông báo mới… - Mobile Banking: “Mobile Banking là một kênh phân phối sản phẩm dịch vụ Ngân hàng qua hệ thống mạng điện thoại di động” [11]. Về nguyên tắc, “Mobile Banking là quy trình thông tin được mã hóa, bảo mật và trao đổi giữa trung tâm xử lý của Ngân hàng và thiết bị di động của khách hàng (ĐTDĐ, Pocket PC, Palm…)” 11 [14].
Để sử dụng dịch vụ này, khách hàng dùng điện thoại nhắn tin theo mẫu đã quy định trước và gửi đến số máy dịch vụ Mobile banking của Ngân hàng. Mobile Banking cho phép khách hàng truy cập thông tin tài khoản cá nhân hoặc thực hiện giao dịch thanh toán hóa đơn tiền điện, nước, điện thoại hoặc giao dịch chứng khoán. Các giao dịch được tiến hành tại nhà thông qua hệ thống máy tính nối với hệ thống máy tính của Ngân hàng. - Internet Banking: “Internet Banking là dịch vụ ngân hàng điện tử giúp khách hàng thực hiện các giao dịch với Ngân hàng thông qua mạng Internet” [6].
Khi tham gia, khách hàng cần phải đăng nhập vào website của Ngân hàng và thực hiện giao dịch, truy cập thông tin cần thiết. Khách hàng cũng có thể truy cập vào các website khác để mua hàng và thực hiện thanh toán với Ngân hàng. - Kios Ngân hàng: “Kios ngân hàng là sự phát triển của dịch vụ Ngân hàng hướng tới việc phục vụ khách hàng với chất lượng cao nhất và thuận tiện nhất” [9]. Khi khách hàng cần giao dịch hoặc yêu cầu dịch vụ, họ chỉ cần truy cập, cung cấp số chứng nhận cá nhân và mật khẩu để sử dụng dịch vụ của hệ thống Ngân hàng.3 Đặc điểm của khách hàng cá nhân sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ ngân hàng điện tử thuộc nhóm các dịch vụ ngân hàng hiện đại, do đó đối tượng khách hàng sử dụng dịch vụ cũng có những đặc thù riêng, một số đặc điểm của KHCN sử dụng dịch vụ NHĐT có thể kể đến như sau: - KHCN sử dụng dịch vụ NHĐT thường là nhóm khách hàng trẻ: Dịch vụ NHĐT là các dịch vụ ngân hàng được triển khai trên nền tảng công nghệ hiện đại với hàm lượng công nghệ thông tin cao.
Đối tượng khách hàng trẻ thường là nhóm đối tượng nhạy bén, có thể thay đổi, bắt kịp sự phát triển của CNTT nên đây sẽ là nhóm khách hàng chủ yếu sử dụng dịch vụ NHĐT của ngân hàng thương mại. 12 - KHCN sử dụng dịch vụ NHĐT thường có trình độ dân trí cao: Việc nắm bắt những nền tẳng CNTT để có thể sử dụng dịch vụ NHĐT là không hề đơn giản. Các ứng dụng triển khai dịch vụ NHĐT với nhiều tính năng, tiện ích cung cấp đến khách hàng giúp đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng song cũng gây ra nhiều khó khăn nếu khách hàng không nắm bắt và hiểu hết toán bộ các tiện ích NHĐT. Vì vậy, những khách hàng cá nhân sử dụng dịch vụ NHĐT thường là khách hàng có trình độ dân trí cao, am hiểu về CNTT cũng như các phương tiện điện tử.
- KHCN sử dụng dịch vụ NHĐT thường có thu nhập ổn định: Khách hàng có thu nhập ổn định là cơ sở để khách hàng thực hiện các giao dịch ngân hàng điện tử do để thực hiện các giao dịch thanh toán, chuyển tiền… khách hàng cần có số dư tài khoản lớn hơn giá trị giao dịch cần thực hiện.2 Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử 1.1 Khái niệm phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử Theo Phạm Đức Tài (2016): “Đối với các dịch vụ ngân hàng nói chung, phát triển là sự gia tăng về loại hình dịch vụ, về tiện ích cung cấp, về giá trị giao dịch, về quy mô và chất lượng dịch vụ ngân hàng” [15]. Trần Hoàng Ngân – Ngô Minh Hải (2004) cho rằng: “Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử là việc gia tăng tiện ích cung cấp, tăng số lượng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng điện tử nhằm nâng cao giá trị giao trị và quy mô khách hàng sử dụng dịch vụ” [9]. Đỗ Văn Hữu (2015) đưa ra quan điểm: “Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử là việc thỏa mãn, đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, mở rộng các kênh phân phối, gia tăng khả năng tiếp cận dịch vụ của khách hàng đồng thời giảm thiểu những rủi ro do các giao dịch ngân hàng điện tử mang lại. Hay phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử là các hoạt động giúp ngân hàng nâng cao chất lượng dịch vụ, gia tăng số lượng khách hàng, gia tăng số lượng các kênh phân phối dịch vụ” [4].
Theo Trần Văn Dũng (2021): “Phát triển dịch vụ NHĐT là phát triển quy mô cung ứng dịch vụ, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm 13 dịch vụ NHĐT thông qua việc tăng mức độ hài lòng cho khách hàng, kiểm soát rủi ro và nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh” [3]. Như vậy, phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử là việc phát triển cả về chất lượng và số lượng sản phẩm, dịch vụ. Sự phát triển về chất lượng là việc giảm thiểu các rủi ro do dịch vụ ngân hàng điện tử mang lại. Sự phát triển về số lượng là việc gia tăng số lượng khách hàng, gia tăng quy mô, doanh số cung cấp dịch vụ, gia tăng số lượng các kênh phân phối dịch vụ đến khách hàng.2 Vai trò của phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử Đối với ngân hàng: Vai trò mà dịch vụ NHĐT mang lại cho ngân hàng cung cấp dịch vụ như: - Giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh doanh: NHĐT có khả năng phục vụ khách hàng trên phạm vi rộng, khách hàng có thể thực hiện giao dịch 24/24h trong ngày tại bất cứ đâu.
Điều này giúp ngân hàng tiếp cận khách hàng tốt hơn, tiết kiệm được chi phí giao dịch, chi phí phát triển mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, chi phí quản lý. Dịch vụ NHĐT giúp giảm chi phí văn phòng, vận hành mạng máy tính cá nhân, chi phí lập và chuyển giao chứng từ giấy. Bằng phương tiện internet/ Web NHĐT cho phép khách hàng truy cập thông tin về dịch vụ thường xuyên, do đó ngân hàng giảm được chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị. - Tăng tốc độ luân chuyển vốn tiền tệ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Thông qua dịch vụ NHĐT các lệnh về chi trả, nhờ thu của khách hàng được thực hiện nhanh chóng, tạo điều kiện cho vốn tiền tệ luân chuyển nhanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Đây là vai trò, lợi ích mà các giao dịch ngân hàng truyền thống khó có thể đạt được với tốc độ nhanh và chính xác so với dịch vụ NHĐT. - Gia tăng số lượng dịch vụ, sản phẩm, tăng thu nhập ngoại lãi: Bên cạnh các dịch vụ ngân hàng truyền thống như gửi tiền, cho vay, mua bán ngoại tệ, các dịch vụ bán buôn khác, dịch vụ NHĐT làm phong phú các dịch vụ ngân hàng hiện đại và tạo ra sự khác biệt giữa ngân hàng này với ngân hàng khác. Phát triển dịch vụ NHĐT có thể giúp ngân hàng thương mại gia tăng nguồn thu nhập từ bán chéo sản phẩm.