Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ở ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh Tây Hồ Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh Tây Hồ Kết luận 11 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ Ở NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Vấn đề cơ bản về dịch vụ Ngân hàng điện tử 1. Dịch vụ ngân hàng 1. Khái niệm Theo Tác giả Trịnh Bá Tửuvi: Đến nay, tại Việt Nam chưa có định nghĩa rõ ràng, và có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm và bản chất của dịch vụ ngân hàng.
Tuy nhiên, có hai ý kiến khác nhau về khái niệm và bản chất của dịch vụ ngân hàng như sau như sau: - Ý kiến thứ nhất: Chỉ những hoạt động như chuyển tiền, mua bán hộ, thu - chi hộ, môi giới,… mới được gọi là dịch vụ ngân hàng. Còn những dịch vụ thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ theo chức năng của một trung gian tài chính (cho vay, huy động tiền gửi,…) thì không được coi là dịch vụ ngân hàng. - Ý kiến thứ hai: Tất cả các hoạt động nghiệp vụ phục vụ cho các thành phần nền kinh tế của một NHTM đều được coi là hoạt động dịch vụ. Theo Tác giả David Coxvii trong cuốn Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 1997, thì dịch vụ ngân hàng là các dịch vụ về vốn, tiền tệ, thanh toán,… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản …và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy.
Trong xu hướng phát triển ngân hàng hiện nay, ngân hàng được coi như là một siêu thị dich vụ, một bách hóa tài chính với hàng trăm, thậm chí hàng nghìn dịch vụ khác nhau tùy theo cách phân loại và tùy theo trình độ phát triển của từng ngân hàng. Theo thông lệ quốc tế, dịch vụ ngân hàng được xếp trong ngành 7, phân ngành B theo WTO. Từ đó cho thấy, theo quan điểm mới của thế giới, dịch 12 vụ ngân hàng được hiểu theo hướng tất cả các nghiệp vụ do Ngân hàng thương mại cung cấp cho mọi thành phần của nền kinh tế đều được tính là dịch vụ ngân hàng. Có thể liệt kê các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đang được các TCTD cung cấp như: Tín dụng, Dịch vụ tiền mặt, Thanh toán chuyển khoản: Ủy nhiệm chi, Cheque, Thẻ, Chuyển tiền, Bankdraft, Khấu trừ tự động, Uỷ nhiệm chi định kỳ, Cho thuê két sắt, Ngân hàng tại nhà (Home banking), Mobile banking, Internet banking (Telephone banking), Thanh toán điện tử (E- banking), Kiều hối, Thanh lý tài sản theo di chúc của khách hàng, Dịch vụ ủy thác, Tư vấn, Bảo hiểm, Dịch vụ bất động sản, Thiết lập và thẩm định dự án, Dịch vụ ngân hàng trên thị trường chứng khoán, Môi giới tiền tệ, Mua bán ngoại tệ, Thanh toán quốc tế,.
Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này, mọi quan điểm về dịch vụ ngân hàng điện tử được áp dụng theo theo thông lệ quốc tế. Phân loại dịch vụ của Ngân hàng thương mại TIÊU CHÍ PHÂN PHÂN LOẠI DỊCH VỤ NGÂN HÀNG LOẠI Dịch vụ tín dụng ngân hàng Dịch vụ phi tín dụng ngân hàng Là dịch vụ cung cấp việc thỏa Là dịch vụ gắn liền với việc thuận để tổ chức, cá nhân sử thu phí do các NHTM thực dụng một khoản tiền hoặc cam hiện, thông qua việc cung Tính chất dịch vụ kết cho phép sử dụng một khoản cấp dịch vụ ngân hàng cho tiền theo nguyên tắc các doanh nghiệp, các tổ có thời hạn, hoàn trả với giá trị chức, cá nhân nhằm thu lớn hơn giá trị ban đầu và tin được lợi nhuận, điển hình tưởng người sử dụng tài sản có cho dịch vụ này là dịch 13 khả năng hoàn trả đúng hạn bằng thanh toán, dịch vụ bảo lãnh, nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, dịch vụ ngân hàng điện tử, cho thuê tài chính, bao thanh dịch vụ kinh doanh ngoại tệ, toán, bảo lãnh ngân hàng và các vàng bạc đá quý… nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Dịch vụ ngân hàng bán buôn Dịch vụ ngân hàng bán lẻ Hình thức mua bán hàng hóa hình thức bán hàng mà thông qua trung gian - đại lý (có người bán trực tiếp cho thể có nhiều cấp trung gian, đại người sử dụng, người tiêu lý…)để bán với khối lượng lớn dùng. Dịch vụ ngân hàng bán buôn là Những hình thức bán trực Cách thức cách thức bán thông qua các tiếp đến các cá nhân, gia cung cấp trung gian tài chính (các NHTM, đình, các doanh nghiệp nhỏ dịch vụ các quỹ…)hoặc thông qua thị và vừa và một số gói dịch vụ trường tài chính (như thị trường nhỏ lẻ đối với các công ty, tổ tiền tệ liên NH để cho vay, thanh chức kinh tế lớn.
toán bù trừ…) và đối với các công ty, tập đoàn kinh tế lớn với những gói dịch vụ giá trị lớn. Thời gian Dịch vụ ngân hàng truyền thống Dịch vụ ngân hàng hiện đại 14 xuất hiện các Dịch vụ đã thực hiện trong nhiều năm trên nền công nghệ - Là hình thức dịch vụ NH cũ, quen thuộc với khách hàng. mới được đưa vào hoạt động Có thể kể đến một số Dịch vụ của NH, được ra đời trên nền NH truyền thống như: Dịch vụ tảng công nghệ mới, đem lại Tín dụng; Dịch vụ thanh toán; các tiện ích mới cho khách Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ; hàng. Có thể kể đến một số Dịch vụ ủy thác… dịch vụ ngân hàng hiện đại như: Dịch vụ thẻ; Dịch vụ quản lý tiền mặt; Dịch vụ thanh toán tiền điện tử; Dịch vụ cho thuê tài chính; dịch vụ ngân hàng tại nhà; Dịch vụ bảo quản và ký gửi… Sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng hiện đại không hoàn toàn là sự thay thế các sản phẩm truyền thống mà nó mang tính kế thừa, thậm chí là sự nâng cấp của các sản phẩm truyền thống.
Trong một nền kinh tế năng động, một xã hội phát triển và thịnh vượng thì nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng là rất lớn. Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam có thể thấy các nhu cầu này chưa nhiều, song trong định hướng lâu dài thì nhu cầu này sẽ không ngừng tăng lên theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Ngày nay, hoạt động ngân hàng trên toàn cầu đã có những thay đổi rất lớn. Đặc biệt là công nghệ thông tin và viễn thông đã tác động mạnh đến phát triển dịch vụ ngân hàng nói chung.
Vì vậy cần có sự nhận dạng tương đối đồng nhất về dịch vụ ngân hàng truyền thống và các dịch vụ ngân hàng hiện đại để đánh giá về thực trạng, môi trường pháp lý, cơ hội và thách thức…Để 15 có định hướng và giải pháp thích hợp cho việc phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng Sản phẩm ngân hàng được thể hiện dưới dạng dịch vụ nên cũng có những đặc trưng cơ bản như các loại hình dịch vụ khác đó là: - Tính vô hình (Intangible):viii Dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không thể sờ mó, cân đong, đo đếm một cách cụ thể như đối với các sản phẩm vật chất hữu hình. Do tính chất vô hình, dịch vụ không có “mẫu” và cũng không có “dùng thử” như sản phẩm vật chất. Chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ một cách đúng đắn nhất.
Do đặc tính vô hình nên trong kinh doanh ngân hàng phải dựa trên cơ sở niềm tin. Để tăng lòng tin của khách hàng, ngân hàng phải nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng, tăng tính hữu hình của sản phẩm, khuyếch trương hình ảnh, uy tín tạo điều kiện cho khách hàng tham gia vào hoạt động tuyên truyền cho ngân hàng. - Tính không đồng nhất (Heterogeneous): Đặc tính này còn được gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ.
Tính không đồng nhất về chất lượng dịch vụ bị ảnh hưởng bởi việc nhà cung cấp dịch vụ sử dụng nhiều nhân lực hoặc máy móc trong quá trình cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Hầu hết khách hàng trước đây đều giao tiếp trực diện với nhân viên giao dịch quầy trong các chi nhánh. Tuy nhiên, ngày nay với sự xuất hiện ngày càng nhiều công nghệ mới đã cho phép các dịch vụ có thể phụ thuộc nhiều hơn vào máy móc và cho phép các ngân hàng cung cấp các dịch vụ có tính chuẩn hóa hơn thông qua việc sử dụng máy ATM, dịch vụ ngân hàng điện tử và các dịch vụ trực tuyến khác. 16 - Tính không thể tách rời (Inseparable): Tính không thể tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó thể phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng.
Sự tạo thành và sử dụng dịch vụ thông thường diễn ra đồng thời cùng lúc với nhau.Nếu hàng hóa thường được sản xuất, lưu kho, phân phối và sau cùng mới giao đến người tiêu dùng thì dịch vụ được tạo ra và sử dụng ngay trong suốt quá trình tạo ra nó. Do đó dịch vụ trở thành một hành động xảy ra cùng lúc với sự hợp tác giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp – ngân hàng và các định chế tài chính khác. - Tính không thể cất trữ (Unstored): Dịch vụ không thể cất trữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác. Chúng ta có thể ưu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trước sau nhưng không thể đem cất dịch vụ rồi sau đó đem ra sử dụng vì dịch vụ thực hiện xong là hết, không thể để dành cho việc “tái sử dụng” hay “phục hồi” lại.
Chính vì vậy, dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sauđó. - Trách nhiệm ủy thác: Đề cập đến trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ ngân hàng trong việc quản lý nguồn vốn của khách hàng và bản chất của những lời tư vấn tài chính cung cấp cho khách hàng của họ.