phần mở đầu, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng, biểu đồ, hình, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về sự phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam – chi nhánh tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam chi nhánh tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đóng góp của đề tài Trên cơ sở kế thừa nền tảng lý luận và thực tiễn của các nghiên cứu trƣớc về phát triển DV NHĐT, luận văn dự kiến có một số đóng góp: - Về mặt khoa học: Cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Agribank BRVT.
- Về mặt thực tiễn: từ những kết quả nghiên cứu các số liệu từ các báo cáo tài chính tại Agribank BRVT, nghiên cứu sẽ cung cấp những thông tin, đƣa ra các kiến nghị và đề xuất cho lãnh đạo chi nhánh ngân hàng những mặt còn hạn chế trong dịch vụ ngân hàng điện tử. Từ đó tập trung tốt hơn trong việc hoạch định chiến lƣợc và có những giải pháp để mở rộng dịch vụ ngân hàng điện tử tại Agribank BRVT. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử 1.
Khái niệm và phân loại sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử Daniel (1999) và Sathye (1999) định nghĩa “Dịch vụ ngân hàng điện tử là việc cung cấp tự động các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng mới và truyền thống trực tiếp cho khách hàng thông qua các kênh truyền thông tương tác, điện tử”. Vũ Hồng Thanh và ThS. Vũ Duy Linh (Tạp chí Ngân hàng số 11-2016), Ngân hàng điện tử là dịch vụ ngân hàng hiện đại, cho phép khách hàng sử dụng điện thoại di động để thực hiện các giao dịch với ngân hàng. Đây là hình thức thanh toán trực tuyến qua điện thoại di động (khách hàng không cần phải đến ngân hàng mà vẫn có thể tiếp cận mọi dịch vụ 24/7 và ở tất cả mọi nơi).
Phƣơng thức này đƣợc ra đời nhằm giải quyết nhu cầu thanh toán các giao dịch có giá trị nhỏ hoặc những dịch vụ tự động không có ngƣời phục vụ. Dịch vụ ngân hàng điện tử (Electronic Banking hay E – Banking) là một loạt các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cung cấp đến cho khách hàng thông qua các ứng dụng công nghệ hiện đại, nó là sự liên kết hoàn hảo giữa các dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin cho phép ngƣời dùng kiểm tra thông tin hoặc thực hiện các giao dịch với tài khoản ngân hàng mà không cần tới quầy giao dịch cũng nhƣ ATM, có thể thông qua Internet hoặc kết nối mạng viễn thông. Dịch vụ ngân hàng điện tử đƣợc tích hợp từ nhiều sản phẩm dịch vụ thông qua các thiết bị công nghệ bao gồm: 1. SMS Banking Dịch vụ SMS Banking là dịch vụ do ngân hàng cung cấp, cho phép khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng thông qua tin nhắn điện thoại di động hoặc thiết bị có chức năng nhắn tin khác để truy vấn thông tin tài khoản, nạp tiền 8 điện thoại… 1.
Mobile Banking Dịch vụ Mobile banking cho phép khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng thông qua ứng dụng đƣợc cài đặt trên điện thoại di động có kết nối GPRS/wifi/3G/4G… 1. Internet Banking Dịch vụ Internet Banking là dịch vụ ngân hàng trực tuyến cho phép khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng thông qua kênh internet. Để sử dụng dịch vụ này, khách hàng phải đăng ký với ngân hàng và đƣợc cấp 1 tài khoản để sử dụng đăng nhập khi có nhu cầu sử dụng. Khi sử dụng dịch vụ này, khách hàng sẽ truy cập vào website của ngân hàng thông qua máy tính hoặc điện thoại di động thông minh và thực hiện các giao dịch bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu.
Các giao dịch khách hàng có thể thực hiện trên internet banking bao gồm: gửi tiết kiệm online, truy vấn thông tin tài khoản, chuyển khoản, thanh toán hoá đơn… 1. Home Banking Là DV cho phép khách hàng ở tại nhà, tại công ty nhƣng có thể thực hiện hầu hết các giao dịch chuyển khoản, thanh toán qua tài khoản tại NH thông qua mạng internet và phần mềm chuyên dùng mà NH đã cài đặt cho khách hàng. Phone Banking Phone Banking là hệ thống trả lời tự động 24/24 của ngân hàng, khách hàng sẽ nhận đƣợc thông tin về tài khoản qua điện thoại. Thông qua Phone Banking, một hệ thống đã đƣợc lập trình sẵn, khách hàng khi gọi điện thoại đến tổng đài sẽ nhận đƣợc các thông tin nhƣ: số dƣ tài khoản, lãi suất, tỷ giá hối đoái, thông tin chứng khoán.
Call Centre Là DV ngân hàng qua điện thoại, khách hàng có thể gọi đến NH bất cứ lúc nào để nhân viên NH tƣ vấn và thực hiện cung ứng các DVNH, bao gồm: Cung 9 cấp thông tin về các DVNH, thực hiện các khoản thanh toán chuyển tiền, tiếp nhận giải đáp các khiếu nại thắc mắc từ phía khách hàng. Ƣu điểm của DV này là cho phép khách hàng thuận tiện và chủ động hơn trong giao dịch với NH, không phải đến NH để giao dịch và có thể nắm bắt đƣợc kịp thời thông tin về tài khoản của mình và những thông tin khác. Ở Việt Nam, các ngân hàng triển khai mô hình Call Center dƣới dạng tổng đài chăm sóc, hỗ trợ khách hàng, dịch vụ này mới chỉ triển khai ở mảng hỗ trợ, tƣ vấn dịch vụ chứ chƣa thực hiện đƣợc tính năng hỗ trợ khách hàng chuyển tiền, thanh toán hoá đơn,… mà thƣờng chuyên viên tƣ vấn sẽ giới thiệu khách hàng ra điểm giao dịch ngân hàng gần nhất. Dịch vụ thẻ Các NHTM chú trọng đẩy mạnh mảng dịch vụ thẻ vì trong thời đại 4.0 nhƣ hiện nay, khách hàng đã nhận ra sự tiện lợi của việc sử dụng thẻ và ít sử dụng tiền mặt hơn.
Thẻ ngân hàng làm một trong những phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt do tổ chức phát hành thẻ phát hành. Khách hàng có thể sử dụng thẻ để rút tiền mặt, chuyển khoản tại máy ATM hoặc thanh toán tại các máy POS. Theo nguồn đảm bảo tài chính cho việc sử dụng thẻ, thẻ đƣợc chia thành: Thẻ ghi nợ (Debit Card): cho phép khách hàng thực hiện giao dịch trong phạm vi số tiền trên tài khoản thanh toán của chủ thẻ mở tại một tổ chức. Thẻ tín dụng (Credit Card): Khách hàng đƣợc sử dụng thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đƣợc cấp.
Một trong những ƣu điểm của thẻ tín dụng so với thẻ ghi nợ là khách hàng sẽ đƣợc miễn lãi trong khoảng thời gian quy định (thông thƣờng là 45 ngày). Rủi ro liên quan đến sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử Theo ThS. Vũ Hồng Thanh và ThS. Vũ Duy Linh (Tạp chí Ngân hàng số 11-2016), Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì tội phạm công nghệ cũng không ngừng gia tăng, ảnh hƣởng của nó cực kỳ lớn đặc biệt là khi nó 1 không chỉ đơn thuần dừng ở mức kỹ thuật mà mục đích lớn hơn là về mặt kinh tế, xã hội.
Một số rủi ro tiềm ẩn nhất định bao gồm: Rủi ro về an ninh: đây là một trong những vấn đề lớn nhất trong giao dịch trên NHĐT, bởi vì cho dù các ngân hàng có cài đặt hình thức bảo mật mạnh tới mức nào thì vẫn có nguy cơ bị đánh cắp dữ liệu, bị xâm nhập. Một số hình thức xâm nhập vào tài khoản khách hàng nhƣ: khách hàng tiết lộ thông tin tài khoản, mật khẩu cho ngƣời khác hoặc tin tặc tấn công cài mã độc hại vào máy tính đánh cắp mật mã internet banking… Lừa đảo qua mail (Phishing): một hình thức ăn cắp thông tin nhạy cảm của khách hàng, làm khách hàng tiết lộ thông tin, giả mạo một ngƣời hoặc tổ chức để khiến cho ngƣời khác tiết lộ thông tin của họ thông qua malware từ email hoặc truy cập những website yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân. Chƣơng trình virus Pharming: chƣơng trình virus xâm nhập vào máy của khách hàng, chiếm quyền điều khiển trình duyệt web. Khi khách hàng nhập thông tin vào một trang web chính thống sẽ bị chuyển đến một trang web giả mạo mà không thể nhận ra.
Những thông tin nhập vào trang web đó sẽ bị chiếm dụng. Dịch vụ khách hàng: Khi sử dụng dịch vụ NHĐT, khách hàng phải tự thực hiện tất cả các thao tác chứ không đƣợc phục vụ bởi nhân viên ngân hàng nhƣ dịch vụ truyền thống. Vì vậy khi cần đƣợc hỗ trợ, khách hàng phải gọi điện hoặc trực tiếp lên ngân hàng mới đƣợc giải quyết. Một số khách hàng đã từ chối sử dụng dịch vụ NHĐT vì họ sợ thao tác sai và không đƣợc hƣởng dịch vụ khách hàng.
Tổng quan về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Khái niệm Theo quan niệm của Triết học, “Phát triển” là quá trình vận động tiến lên từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật. Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đƣa tới sự ra 1 đời của cái mới thay thế cái cũ. Từ quan niệm về phát triển, Theo Cao Thị Thuỷ (2016), Phát triển dịch vụ NHĐT là phát triển quy mô cung ứng dịch vụ, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm, nâng cao chất lƣợng sản phẩm dịch vụ NHĐT thông qua việc tăng mức độ hài lòng cho khách hàng, kiểm soát rủi ro và nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh.
Đồng thời theo Phạm Thu Hƣơng (2012), Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NHTM là việc các NHTM tập trung mọi nguồn lực để phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử về chất và lƣợng; là quá trình thúc đẩy, tăng cƣờng và khuyến khích ứng dụng các phƣơng tiện điện tử vào các dịch vụ ngân hàng nhằm thu hút ngày càng nhiều khách hàng có thể quan tâm, tiếp cận, sử dụng các dịch vụ ngân hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại. Thƣớc đo về sự phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử đƣợc thể hiện ở 2 khía cạnh sau: Quy mô: Phát triển dịch vụ NHĐT là một sự tăng trƣởng về quy mô của việc cung ứng dịch vụ NHĐT của ngân hàng.