Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ Chương 2: Phương pháp và kết quả nghiên cứu Chương 3: Một số giải pháp, khuyến nghị nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Vĩnh Phúc 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1. Lý luận về dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ ngân hàng bán lẻ bởi các nhà nghiên cứu tiếp cận khái niệm này dưới nhiều góc độ khác nhau. Có thể kể đến các khái niệm phổ biến về dịch vụ ngân hàng bán lẻ như sau: Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO): Ngân hàng bán lẻ là nơi khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại những điểm giao dịch của ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như gửi tiền tiết kiệm, kiểm tra tài khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và các dịch vụ khác.
Theo các chuyên gia của Học viện Công nghệ Châu Á – AIT (2007): Ngân hàng bán lẻ là ngân hàng cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc là việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông. Theo “Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại” (Nguyễn Minh Kiều, 2012), “Ngân hàng bán lẻ được hiểu là loại hình ngân hàng chủ yếu cung cấp các dịch vụ cho các doanh nghiệp, các hộ gia đình và các cá nhân với các khoản tín dụng nhỏ” [12]. Theo Từ điển Ngân hàng và Tài chính Quốc tế Anh Việt của tác giả Nguyễn Trọng Đàn (2003), thuật ngữ Retail Banking (được hiểu là ngân hàng bán lẻ) được định nghĩa như sau: thuật ngữ Retail Banking (được hiểu là ngân hàng bán lẻ) được định nghĩa như sau: Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là dịch vụ ngân hàng dành cho quảng đại quần chúng, thường là một nhóm các dịch vụ tài chính, bao gồm cho vay trả dần, vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân. Như vậy, có hai quan điểm khác nhau về dịch vụ bán lẻ, một quan điểm cho rằng, đối tượng dịch vụ của ngân hàng bán lẻ là các khách hàng cá nhân và hộ gia đình, quan điểm còn lại thì cho rằng đối tượng dịch vụ của ngân hàng bán lẻ bao gồm cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Tuy nhiên, trên cơ sở thực tế 9 về việc xác định đối tượng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại VietinBank, thì đối tượng của dịch vụ bán lẻ VietinBank xác định bao gồm khách hàng cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu vi mô (là doanh nghiệp có doanh thu dưới 20 tỷ/năm) (gọi chung là khách hàng bán lẻ). Trong đó, khách hàng cá nhân chiếm hơn 90% về kết quả hoạt động kinh doanh, số lượng khách hàng,. về dịch vụ bán lẻ. Vì vậy tại bài nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu dịch vụ bán lẻ của khách hàng cá nhân.
Đặc điểm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Dịch vụ ngân hàng bán lẻ được hiểu trên nhiều góc độ khác nhau tuy nhiên chúng đều có chung những đặc điểm như sau: Thứ nhất, số lượng khách hàng lớn. Đối tượng khách hàng của dịch vụ NHBL đa dạng, phong phú với số lượng rất lớn, nhưng giá trị từng khoản giao dịch không cao và khách hàng chủ yếu là người lao động nhỏ lẻ và cá nhân, đây là lực lượng khách hàng rất lớn, tiềm năng, đang có nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ NHBL nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng, sản xuất kinh doanh, nâng cao giá trị và tiện ích trong cuộc sống. Mặc dù chiếm số đông lượng khách hàng của ngân hàng nhưng nhu cầu của khách hàng cá nhân thường là các khoản giao dịch thường nhỏ và đòi hỏi chất lượng cao, thiết thực và phải đặc biệt tiện lợi trong quá trình sử dụng và khai thác dịch vụ. Thứ hai, đối tượng khách hàng không đồng nhất.
Đối tượng khách hàng của dịch vụ NHBL thuộc nhiều nhóm khách hàng khác nhau tùy theo các tiêu thức phân chia cụ thể như: thu nhập, ngành nghề kinh doanh. Do vậy, nhu cầu của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng bán lẻ rất phong phú và đa dạng (Tô Khánh Toàn, 2014). Thích ứng với đặc điểm này, các ngân hàng muốn phát triển hoạt động bán lẻ phải tìm tòi và phát triển được các sản phẩm dịch vụ phù hợp với nhu cầu của từng nhóm đối tượng khách hàng. Tuy nhiên, các sản phẩm, dịch vụ bán lẻ phải đáp ứng được yêu cầu dễ dàng sử dụng và tiết kiệm thời gian vận hành cũng như xử lý nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng để cùng một lúc có thể cung cấp cho số lượng lớn khách hàng 10 Thứ ba, dịch vụ ngân hàng bán lẻ được phát triển trên nền tảng công nghệ cao.
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ là mốc đầu tiên đánh dấu sự phát triển về công nghệ với hệ thống thông tin tích hợp và tập trung, đóng vai trò quan trọng cho phép các ngân hàng ứng dụng và triển khai các sản phẩm bán lẻ với cơ sở công nghệ hiện đại. Hàng loạt các tiện ích được đưa vào sử dụng như chuyển tiền tự động có chu kỳ linh hoạt, đầu tư tự động (Đào Lê Kiều Anh, 2012). Nhờ khả năng trao đổi thông tin tức thời, công nghệ thông tin góp phần nâng cao hiệu quả của việc quản trị ngân hàng, tạo điều kiện thực hiện mô hình xử lý tập trung các giao dịch có tính chất phân tán như chuyển tiền, giao dịch thẻ, tiết giảm chi phí giao dịch. Công nghệ thông tin có tác dụng tăng cường khả năng quản trị trong ngân hàng, hệ thống quản trị tập trung sẽ cho phép khai thác dữ liệu một cách nhanh chóng, chính xác và nhất quán.
Thứ tư, mạng lưới phân phối rộng, sản phẩm đa dạng. Để có thể tiếp cận tới nhiều đối tượng khách hàng, mở rộng phạm vi hoạt động thì việc phát triển thêm các chi nhánh, các phòng, các điểm giao dịch cùng với một đội ngũ cán bộ nhiệt tình, am hiểu địa bàn là rất cần thiết. Có máy móc hiện đại là tốt, nhưng nếu người dân không biết cách sử dụng, lại không có người hướng dẫn tận tình, cụ thể thì máy móc đó cũng sẽ bị lãng phí, gây ra tổn thất lớn. Không chỉ cần hệ thống phân phối rộng, một ngân hàng muốn phát triển lớn mạnh dịch vụ NHBL của mình, còn cần một danh mục sản phẩm đa dạng, đáp ứng được mọi nhu cầu khác nhau của mọi đối tượng khách hàng, hoặc cần xác định rõ đoạn thị trường mục tiêu của mình là gì để phát triển lớn mạnh loại hình dịch vụ dành cho đối tượng đó, không đi vào chiều rộng mà đi vào chiều sâu của vấn đề.
Vai trò của dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1. Đối với nền kinh tế - xã hội Theo Trịnh Quốc Trung (2013), dịch vụ ngân hàng bán lẻ có vai trò sau đối với xã hội: Thứ nhất, dịch vụ ngân hàng bán lẻ góp phần hình thành tâm lý thanh toán không dùng tiền mặt của người dân. Nhờ đó, tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả 11 ngân hàng và khách hàng, đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, đáp ứng tính tiện lợi, sự thay đổi nhanh và thường xuyên các nhu cầu xã hội. Thứ hai, dịch vụ ngân hàng bán lẻ góp phần huy động nguồn lực cho sự phát triển kinh tế của đất nước.
Dịch vụ ngân hàng bán lẻ thu hút nguồn vốn nhỏ lẻ, rải rác trong khu vực dân cư, do vậy, các nguồn vốn này được sử dụng hiệu quả hơn vào việc phát triển sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng từ đó góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao đời sống dân cư. Không chỉ thu hút được các nguồn lực trong nước, dịch vụ ngân hàng bán lẻ còn thu hút được các nguồn lực từ nước ngoài, thông qua các hoạt động: Dịch vụ kiều hối, chuyển tiền, kinh doanh ngoại tệ. Đây là những nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia phục vụ cho sự phát triển kinh tế trong nước. Thứ ba, dịch vụ ngân hàng bán lẻ tạo điều kiện cho các ngành dịch vụ khác phát triển.
Việc thanh toán, chi trả tiền hàng hóa, dịch vụ thông qua các dịch vụ ngân hàng bán lẻ hiện đại. Thẻ, Internet Banking, Mobile Banking góp phần cải thiện môi trường tiêu dùng, xây dựng văn hóa thanh toán, giảm chi phi xã hội và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngành dịch vụ khác như: Ngành điện, nước, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải,… Thứ tư, dịch vụ ngân hàng bán lẻ phát triển sẽ thu hút được nhiều chủ thể kinh tế tiếp cận và sử dụng các dịch vụ của ngân hàng để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về tiền tệ, kiểm soát được các hành vi gian lận thương mại , trốn thuế. Đối với ngân hàng thương mại Còn đối với ngân hàng thương mại, theo Tô Ngọc Hưng (2012), dịch vụ ngân hàng bán lẻ có vai trò sau: Thứ nhất, dịch vụ ngân hàng bán lẻ giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển khách hàng, mở rộng thị trường và tăng thị phần cho ngân hàng. Mở rộng đối tượng khách hàng là mục tiêu của bất kỳ ngân hàng thương mại nào.
Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ giúp ngân hàng thu hút khách hàng mới, giữ khách hàng cũ, từ đó nâng cao vị thế hình ảnh của mình. Khách hàng cá nhân là khách hàng đông đảo 12 nhất và không ngừng tăng trưởng. Với số lượng lớn, chiếm đa số trong danh sách khách hàng của một ngân hàng, các khách hàng cá nhân là cầu nối trong tiến trình xâm nhập thị trường, thông qua khả năng truyền thông tin nhanh và rộng. Nếu ngân hàng làm khách hàng hài lòng, thì ngân hàng sẽ không tốn chi phí quảng cáo, mà vẫn mở rộng được số lượng khách hàng.
Thứ hai, dịch vụ ngân hàng bán lẻ tạo nguồn vốn chủ đạo cho ngân hàng và tăng doanh số hoạt động cho ngân hàng.