phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình công bố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận văn gồm 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh Tuyên Quang Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh Tuyên Quang. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Lý luận về dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1.
Khái niệm và những nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại * Khái niệm: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vỉ mô và quỹ tín dụng nhân dân". Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: - Nhận tiền gửi; - Cấp tín dụng; - Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận [4, trang 33]. * Những nghiệp vụ tài chính ngân hàng cơ bản của NHTM - Hoạt động ngân hàng thương mại + Huy động vốn + Hoạt động tín dụng + Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ + Các hoạt động kinh doanh và dịch vụ ngân hàng khác: kinh doanh ngoại hối, dịch vụ thanh toán, bao thanh toán, chiết khấu, - Hoạt động ngân hàng đầu tư 11 + Đầu tư tài chính + Các dịch vụ về chứng khoán + Quản lý quỹ đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, ủy thác đầu tư, nhận ủy thác đầu tư + Tư vấn việc mua bán, sáp nhập, tái cơ cấu doanh nghiệp; mua bán nợ theo quy định của pháp luật + Các hoạt động ngân hàng đầu tư khác theo quy định của pháp luật - Hoạt động bảo hiểm + Bảo hiếm nhân thọ + Bảo hiểm phi nhân thọ + Tái bảo hiểm + Các dịch vụ bảo hiểm khác - Các hoạt động khác + Các sản phẩm dịch vụ tài chính phái sinh sau khi được NHNN chấp thuận + Các dịch vụ khác về tài chính, ngân hàng, đầu tư + Cho thuê các tài sản [4, trang 34] 1. Khái niệm ngân hàng bán lẻ Thuật ngữ “ngân hàng bán lẻ” có xuất phát từ từ gốc trong tiếng Anh là “Retail banking” bắt đầu được sử dụng phổ biến tại Việt Nam trong khoảng một thập kỷ trở lại đây. Tại Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động ngân hàng bán lẻ và đặc biệt, các ngân hàng và các tổ chức tài chính tại Việt Nam đã và đang tích cực triển khai các giải pháp để đẩy mạnh hoạt động này.
Tuy nhiên, trong thời điểm hiện tại, dưới ảnh hưởng của cuộc cách mạng 4.0, đây là một mảnh đất màu mỡ vẫn cần tiếp tục được khai phá để đưa hoạt động này lên một tầm cao mới. Tính đến thời điểm hiện tại chưa có định nghĩa chính xác về hoạt động ngân hàng bán lẻ. Các quan điểm về hoạt động ngân hàng bán lẻ dựa trên loại hình dịch vụ hoặc đối tượng khách hàng mà các sản phẩm hướng tới. Theo thư viện bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì “Ngân hàng bán lẻ, hay còn gọi là ngân hàng của người tiêu dùng, là việc cung cấp các dịch vụ bởi một 12 ngân hàng với công chúng, chứ không phải cho các công ty, các tập đoàn hoặc các ngân hàng khác, mà thường được mô tả như ngân hàng bán buôn.
Các dịch vụ ngân hàng được coi là bán lẻ bao gồm cung cấp tài khoản tiết kiệm và giao dịch, thế chấp, cho vay cá nhân, thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng. Ngân hàng bán lẻ cũng được phân biệt với ngân hàng đầu tư hoặc ngân hàng thương mại. Nó cũng có thể đề cập đến một bộ phận hoặc một phòng ban của một ngân hàng liên quan đến khách hàng cá nhân” [11] “DVNHBL là dịch vụ ngân hàng dành cho quảng đại quần chúng, thường là một nhóm các dịch vụ tài chính gồm cho vay trả dần, vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân” – Theo từ điển Ngân hàng và Tin học. [12] Trên thực tế tại các NHTM trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, việc phân biệt ngân hàng bán lẻ hay ngân hàng bán buôn dựa vào đối tượng khách hàng phục vụ theo từng phân khúc khác nhau.
Dịch vụ Ngân hàng bán lẻ thường được hiểu là các dịch vụ áp dụng đối với nhóm khách hàng cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp siêu nhỏ (siêu vi mô). Như vậy, theo quan điểm của tác giả, dịch vụ ngân hàng bán lẻ có thể hiểu một cách đầy đủ như sau: “Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là dịch vụ ngân hàng được cung ứng đến từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thông qua mạng lưới các đơn vị kinh doanh hoặc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện thông tin điện tử viễn thông”. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng bán lẻ [12] Đối tƣợng khách hàng của ngân hàng bán lẻ lớn: Dịch vụ NHBL là dịch vụ hướng tới các khách hàng cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đặc thù của nhóm khách hàng này là khác nhau về độ tuổi, vị thế xã hội, trình độ học vấn và hành vi tiêu dùng do đó nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng là đa dạng và phong phú.
Đối với nhóm khách hàng có trình độ, có am hiểu về lĩnh vực tiền tệ ngân hàng, họ sẽ quan tâm nhiều hơn đến tiện ích, giá trị gia tăng của sản phẩm, dịch vụ. Ngược lại, nhóm khách hàng ít có các giao dịch với ngân hàng 13 thì hay chú ý đến giá, lãi suất và uy tín của ngân hàng để ra quyết định gửi tiền, vay tiền hay thực hiện các dịch vụ khác tại ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng bán lẻ bao gồm nhiều món giao dịch với giá trị của mỗi giao dịch không lớn nên chi phí bình quân trên mỗi giao dịch khá cao: Do tính chất là dịch vụ dành cho các cá nhân, doanh nghiệp nhỏ- những đối tượng có nhu cầu giao dịch ít tiền hơn là các doanh nghiệp lớn nên ta có thể dễ nhận thấy rằng giá trị các khoản giao dịch của DVNHBL thường nhỏ và nhỏ hơn rất nhiều các khoản giao dịch của các doanh nghiệp, các định chế tài chính Kinh doanh ngân hàng bán lẻ phục vụ nhu cầu mang tính chất thời điểm: Các dịch vụ mà mọi cá nhân mong muốn ngân hàng cung cấp cho mình chỉ có giá trị trong một thời điểm nhất định. Hệ thống kênh phân phối rộng khắp: Khách hàng cá nhân luôn có ở khắp nơi, do đó, để cung cấp dịch vụ NHBL tới từng khách hàng cá nhân thì vấn đề tiên quyết là ngân hàng đó phải có hệ thống kênh phân phối rộng khắp để có thể mang sản phẩm, dịch vụ tới tất cả mọi người, đến tận tay khách hàng.
Do đó, có thể giảm thiểu những chi phí không cần thiết phát sinh. Một ngân hàng có hệ thống kênh phân phối rộng sẽ giúp ngân hàng có thêm nhiều khách hàng. Đồng thời, cũng giúp cho khách hàng thuận tiện trong giao dịch cũng như việc yêu cầu ngân hàng giải quyết các vướng mắc Sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ phong phú và đa dạng: Do nhu cầu của mỗi đối tượng KH là khác nhau theo giới tính, độ tuổi, thu nhập, đặc tính vùng miền… nên để đáp ứng tối đa các nhu cầu của khách hàng thì ngân hàng cần có sự đa dạng, phong phú về sản phẩm cũng như tiện ích của sản phẩm. Khi đó, khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn, phù hợp với các yêu cầu, sở thích của mình hơn Dịch vụ ngân hàng bán lẻ mang lại ít rủi ro hơn cho ngân hàng: Dịch vụ NHBL là dịch vụ ít chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế vì khi nền kinh tế bị biến động theo chu kỳ kinh tế thì những khách hàng tổ chức thường bị ảnh hưởng đầu tiên và mức độ ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với khách hàng cá nhân.
Lúc đó, nguồn vốn ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng của nền kinh tế. Như vậy, 14 dịch vụ ngân hàng bán lẻ đã giúp hạn chế và phân tán rủi ro cho ngân hàng Dịch vụ ngân hàng bán lẻ dựa trên nền tảng công nghệ thông tin: Trong thời đại công nghiệp 4.0 như hiện nay, ngân hàng nào có hệ thống CNTT phát triển, có khả năng ứng dụng tốt các công nghệ vào hoạt động ngân hàng thì sẽ có cơ hội lớn để phát triển hoạt động bán lẻ của mình. Bởi vì CNTT là nền tảng để hỗ trợ các ngân hàng phát triển tốt các sản phẩm dịch vụ hiện đại của mình như internet banking, mobile banking, phone banking… Tốc độ và độ chính xác khi xử lý các giao dịch, các tiện ích của sản phẩm, mức độ bảo mật thông tin… là những yếu tố rất quan trọng khi KH lựa chọn sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử của một ngân hàng. Hơn nữa, một ngân hàng có hệ thống công nghệ thông tin hiện đại thì sẽ có khả năng lư trữ và xử lí dữ liệu tập trung, để từ đó có thể dễ dàng triển khai mô hình tập trung hóa các hoạt động vận hành, xử lý các giao dịch có tính chất phân tán như hỗ trợ tín dụng, thanh toán trong và ngoài nước, nhằm tiết kiệm chi phí và nâng cao năng lực quản trị Hoạt động marketing giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển DVNHBL: Đối tượng KH của DVNHBL là các cá nhân, DNNVV.
Khả năng tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng của nhóm KH này còn thấp, đặc biệt là với các KHCN.