Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của ngân 9 hàng thương mại. Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Quốc Dân. Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Quốc Dân.
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái quát về dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ * Khái niệm dịch vụ: Khái niệm dịch vụ cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau như: Theo Kotler P. (1995), đã định nghĩa dịch vụ “là một hoạt động hay một lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, trong đó nó có tính vô hình và không dẫn đến bất cứ sự chuyển giao sở hữu nào”. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công”.
Từ những khái niệm trên có thấy dịch vụ bao gồm nhiều hoạt động mang tính xã hôi của con người nhằm tạo ra những sản phẩm, hàng hóa đặc thù khó có thể nhìn nhận bằng giác quan mà chỉ có thể cảm nhận thông qua hoạt động sử dụng, tiêu dùng nó. *Khái niệm ngân hàng bán lẻ Theo quan điểm của Tổ chức Thương mại thế giới thì “ngân hàng bán lẻ là nơi khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại những điểm giao dịch của ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: gửi tiền tiết kiệm, kiểm tra tài khoản, thế chấp vay vốn, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và các dịch vụ khác đi kèm” Hay theo quan điểm của Cung Kim Tiến (1999), cho rằng: “Dịch vụ Ngân hàng bán lẻ là các dịch vụ ngân hàng được thực hiện với khách hàng là công chúng, 10 thường có quy mô nhỏ và thông qua các chi nhánh nhằm đối lập với dịch vụ NHBL là dịch vụ ngân hàng dành cho các định chế tài chính và những dịch vụ ngân hàng được cung cấp với số lượng lớn”. Từ những khái niệm trên, có thể rút ra khái niệm về dịch vụ NHBL như sau: Dịch vụ NHBL là việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng dành cho đối tượng khách hàng cá nhân (cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa) thông qua hệ thống kênh phân phối gián tiếp (mạng lưới chi nhánh, điểm/phòng giao dịch) hoặc kênh phân phối trực tiếp (phương tiện có ứng dụng công nghệ thông minh) 1. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ Dịch vụ NHBL có một số những nét đặc trưng riêng, cụ thể như - Số lượng khách hàng lớn: Chính chữ “bán lẻ” đã cho ta thấy nét đặc trưng nổi bật của dịch vụ này, đó là khách hàng thường là những người mua lẻ, mua ít hay chính là người tiêu dùng cuối cùng.
Do vậy mỗi cá nhân trong xã hội đều có thể trở thành một khách hàng của ngân hàng. Chình vì lẽ đó, số lượng khách hàng hướng tới của dịch vụ NHBL là rất lớn. - Giá trị giao dịch không lớn nhưng số lượng giao dịch lại nhiều. Do dịch vụ mang đặc thù “cá nhân” nên giá trị của mỗi giao dịch mà khách hàng thực hiện tại ngân hàng thường nhỏ, nhưng xét về mức độ hay tần suất thực hiện các giao dịch đó thì không hề nhỏ.
Mỗi cá nhân một ngày có thể phát sinh hơn một giao dịch nên nếu cung cấp đầy đủ các giao dịch theo nhu cầu của tất cả khách hàng này thì ngân hàng sẽ thu được một khoản lợi ích không hề nhỏ. - Nhu cầu dịch vụ của khách hàng ngày càng đa dạng. Mỗi cá nhân có sự khách nhau về nhận thức, về trình độ, về sở thích, về lối sống, về nghề nghiệp,… nên nhu cầu sử dụng địch vụ ngân hàng cũng có sự khác biệt. Mà nhu cầu luôn biến đổi do nhiều yếu tố bao gồm những yếu tố thuộc về môi trường sống và các yếu tố thuộc về chính bản thân cá nhân đó do vậy nhu cầu cũng trở nên đa dạng hơn.
Vì vậy dịch vụ của ngân hàng cũng cần phải đa dạng và đổi mới để có sự đáp ứng tốt nhất đối với nhu cầu của khách hàng. 11 - Mức độ rủi ro ít Đối tượng phục vụ của ngân hàng là khách hàng nhỏ lẻ hay nói cách khác là cá nhân nên việc giá trị giao dịch thường không lớn do vậy mức độ rủi ro hay tổn thất mà nhóm khách hàng này có thể mang đến cho khách hàng cũng ít hơn nhiều so với nhóm khách hàng bán buôn. Và trong quá trình cung cấp dịch vụ, ngân hàng cũng cung cấp cho nhiều khách hàng cá nhân nên khi đó nguy cơ tiền ẩn cũng được phân tán đi nhiều nhờ đó mà rủi ro cũng được giảm bớt. Vai trò của dịch vụ ngân hàng bán lẻ Dịch vụ NHBL có một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, của ngân hàng thương mại và của khách hàng, cụ thể: Đối với nền kinh tế - xã hội Dịch vụ NHBL góp phần làm gia tăng quá trình luân chuyển vốn, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, đảm bảo sự chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhìn trên khía cạnh kinh tế - xã hội, dịch vụ NHBL có tác dụng đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế. Dịch vụ NHBL góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và các thành phần kinh tế theo hướng tiến bộ và hiện đại; đồng thời, góp phần tích cực trong việc khơi thông nguồn vốn trong xã hội phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, tạo việc làm và nâng cao đời sống người dân. Các dịch vụ NHBL phát triển sẽ tạo điều kiện tốt để các DN nhỏ và vừa, các hộ kinh doanh cá thể có điều kiện tiếp cận với nguồn vốn tín dụng và các dịch vụ NHBL tiên tiến khác. Bên cạnh đó, dịch vụ NHBL góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hình thành các ngành kinh tế mới có giá trị gia tăng cao, các khu vực, vùng kinh tế phát triển năng động, hiệu quả, bền vững.
Đối với ngân hàng thương mại Dịch vụ NHBL giúp rút ngắn thời gian giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng, làm cho tiên tệ có thể nhanh chóng chuyền từ tay khách hàng đến ngân hàng và ngược lại. Dòng vốn huy động được cũng sẽ lớn hơn và nhanh chóng hơn từ đó 12 việc tái đầu tư cũng được đẩy mạnh nhờ đó kinh tế có thể phát triển, đời sống người dân được cải thiện. Ngân hàng có thể gia tăng thu nhập nhờ cung cấp các dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thông qua các loại phí dịch vụ cung ứng. Đối với khách hàng cá nhân Dịch vụ NHBL của ngân hàng đã và đang mang đến cho khách hàng những lợi ích vô cùng to lớn như giúp khách hàng bảo đảm an toàn cho đống vốn tiết kiệm, sử dụng đồng vốn đầu tư hiệu quả vừa giúp khách hàng và ngân hàng gia tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống, nâng cao chất lượng sống của bản thân và gia đình.
Trong thời gian tới dịch vụ NHBL sẽ tiếp tục là cầu nối vững chắc giữa khách hàng và ngân hàng. Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại Các dịch vụ NHBL của NHTM bao gồm các dịch vụ chủ yếu sau: 1.1 Dịch vụ huy động vốn Các ngân hàng thực hiện các hoạt động huy động vốn thông qua những hình thức đó là: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp nhỏ và vừa; tiền gửi tiết kiệm của dân cư hoặc huy động vốn thông qua việc phát hành các giấy tờ có giá. Dịch vụ tín dụng Hoạt động tín dụng bán lẻ của các NHTM hiện nay rất phong phú và đa dạng nhằm đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu của KH. Căn cứ theo đối tượng KH, có thể phân chia tín dụng bán lẻ thành hai loại hình cơ bản là cho vay KHCN và cho vay KH DNNVV, trong đó: - Cho vay KHCN và hộ gia đình: Là các khoản cho vay nhỏ lẻ, đáp ứng nhu cầu chi tiêu và mua sắm tiện nghi sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình nhằm nâng cao đời sống của người dân.
Căn cứ theo mục đích sử dụng tiền vay, có thể phân chia thành các sản phẩm tín dụng cho KHCN, hộ gia đình như sau: Cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay thông qua phát hành thẻ tín dụng. Cho vay KH doanh nghiệp nhỏ và vừa: với nhóm đối tượng KH này, các sản phẩm tín dụng bao gồm: Cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động, cho vay trung, 13 dài hạn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh 1. Dịch vụ thanh toán Các dịch vụ thanh toán chủ yếu của các ngân hàng thường bao gồm: - Thanh toán trong nước bao gồm: Thanh toán bằng séc, lệnh chi (hoặc ủy nhiệm chi), thanh toán bằng nhờ thu (hoặc ủy nhiệm thu). - Thanh toán nước ngoài bao gồm: + Chuyển tiền đi nước ngoài bằng điện chuyển tiền (TT) hoặc thư chuyển tiền (MTR) đây là phương thức thanh toán theo đó, nhà nhập khẩu yêu cầu NHTM phục vụ mình thông qua một ngân hàng đại lý ở nước ngoài chuyển trả một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu.
+ Trả tiền lấy chứng từ (C.D): phương thức thanh toán này được thực hiện bằng cách nhà nhập khẩu mở một tài khoản tín chấp tại ngân hàng phục vụ mình, và đưa ra các yêu cầu về bộ chứng từ thanh toán mà nhà xuất khẩu cần xuất trình trước khi nhận được tiền thanh toán. + Phương thức nhờ thu: nhà xuất khẩu sau khi xuất hàng sẽ ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ tiền hàng của nhà nhập khẩu trên cơ sở xuất trình bộ chứng từ đầy đủ, hợp lệ. Có hai loại nhờ thu là nhờ thu chấp nhận chứng từ (D/A) và nhờ thu đổi chứng từ (D/P). + Thư tín dụng (L/C): là một văn bản do NHTM phát hành cho nhà nhập khẩu, cam kết sẽ thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu (người thụ hưởng) khi người này xuất trình được bộ chứng từ hợp lệ.
Trong hoạt động ngoại thương, thư tín dụng được sử dụng phổ biến bởi lẽ trong hình thức thanh toán này, các NHTM đóng vai trò trung gian, đảm bảo lợi ích cho cả nhà nhập khẩu và xuất khẩu.