Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ viễn thông cho khách hàng doanh nghiệp Chương 2: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng phát triển dịch vụ viễn thông cho khách hàng doanh nghiệp tại Viettel Hà nội – Chi nhánh Tập đoàn Viễn thông Quân Đội. Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển dịch vụ viễn thông cho khách hàng doanh nghiệp tại Viettel Hà nội – Chi nhánh Tập đoàn Viễn thông Quân Đội. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CHO KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Bùi Xuân Phong (2010), “Quản trị kinh doanh Viễn thông theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế”, NXB Bƣu điện, Hà nội.
Trong cuốn sách, tác giả đã trình bày các vấn đề: quản trị kinh doanh Viễn thông với hội nhập kinh tế; cơ sở khoa học của quản trị kinh doanh Viễn thông; chiến lƣợc và kế hoạch kinh doanh Viễn thông; quản trị chất lƣợng sản phẩm DVVT; quản trị tài sản doanh nghiệp Viễn thông; quản trị nhân lực doanh nghiệp Viễn thông; quản trị doanh thu, chi phí và lợi nhuận kinh doanh Viễn thông; quản trị dự án đầu tƣ trong Viễn thông; hiệu quả hoạt động kinh doanh Viễn thông; nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Viễn thông trong quá trình hội nhập kinh tế. Trần Văn Thịnh (2011),“Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực viễn thông Việt Nam” Luận án tiến sĩ kinh tế, Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà nội. Luận án đã hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nƣớc đối với lĩnh vực viễn thông; thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với lĩnh vực viễn thông Việt Nam; một số vấn đề cơ bản hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với lĩnh vực viễn thông Việt Nam. Luận án tập trung đề xuất một số biện pháp lớn để nâng cao sức cạnh tranh của ngành viễn thông Việt Nam, đó là: hoàn thiện về cơ chế, chính sách quản lý nhà nƣớc đối với lĩnh vực viễn thông.
Trần Đăng Khoa (2012), “Phát triển ngành viễn thông Việt Nam đến năm 2020”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trƣờng Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Luận án đã nghiên cứu những kinh nghiệm phát triển ngành viễn thông của một số nƣớc trên thế giới, đánh giá thực trạng phát triển ngành viễn thông từ năm 2012 trở về trƣớc, là giai đoạn ngành viễn thông mới bắt đầu có sự tăng tốc. Đồng thời, chỉ ra những quan điểm, định hƣớng phát triển ngành viễn thông Việt Nam đến năm 2020. 4 Trần Thị Anh Thƣ (2012), “Tăng cường năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trong điều kiện Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới” , Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện Quản lý kinh tế Trung ƣơng.
Trong luận án, tác giả đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và sự cần thiết phải tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của VNPT trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO. Đặc biệt luận án đã đề cập đến các nhân tố năng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực DVVT hiện nay. Lê Ngọc Minh (2013), “Phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam” Luận án tiến sĩ kinh tế, Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà nội. Tác giả đã nghiên cứu và hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam.
Phân tích thực trạng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thông tin di động Việt Nam hiện nay; trong đó, lấy 3 doanh nghiệp chiếm 95% thị trƣờng viễn thông là Viettel, MobiFone, Vinaphone làm đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu. Qua phân tích thực trạng, tác giả đã đƣa ra cơ hội, thách thức, mục tiêu phát triển kinh doanh dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam thời gian tới. Nguyễn Mạnh Hùng (2013), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành viễn thông Việt Nam”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Trong luận án, tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận về cạnh tranh và về năng lực cạnh tranh cấp ngành, các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh cấp ngành, các yếu tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh ngành viễn thông; đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành viễn thông Việt Nam.
* Khoảng trống nghiên cứu của luận văn Các công trình khoa học nói trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về chiến lƣợc kinh doanh dịch vụ viễn thông nhƣ: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp kinh doanh DVVT nói riêng; chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc; môi trƣờng pháp lý; điều kiện kinh tế xã hội; năng lực quản lý điều hành; khả năng tài chính; trình độ công nghệ; nguồn nhân lực. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu trên vẫn còn khoảng trống mà luận văn cần giải quyết 5 đó là đề tài tập trung nghiên cứu nội dung, xây dựng các tiêu chí phát triển dịch vụ viễn thông. Hơn nữa, trên cơ sở khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu đã công bố, tác giả nhận thấy, chƣa có công trình nào nghiên cứu về “Phát triển dịch vụ viễn thông cho khách hàng doanh nghiệp”. Vì thế, tác giả lựa chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu là vấn đề có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn sâu sắc, đồng thời không có sự trùng lắp với các công trình đã đƣợc công bố.
Cơ sở lý luận cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ viễn thông cho khách hàng doanh nghiệp 1. Dịch vụ viễn thông và dịch vụ viễn thông cho khách hàng doanh nghiệp 1. Dịch vụ viễn thông a). Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ * Khái niệm: Hiện nay, chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi đƣợc gọi chung là dịch vụ và ngƣợc lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau.
Đã có nhiều khái niệm, định nghĩa về dịch vụ nhƣng để có hình dung về dịch vụ trong khóa luận tốt nghiệp của mình tôi tham khảo một số khái niệm dịch vụ cơ bản. Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm thì “Dịch vụ là thực hiện những gì Doanh nghiệp đã hứa hẹn nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những mối quan hệ đối tác lâu dài với khách hàng và thị trường. Và dịch vụ chỉ đạt chất lượng khi khách hàng cảm nhận rõ ràng là việc thực hiện các hứa hẹn đó của doanh nghiệp mang đến cho khách hàng giá trị gia tăng nhiều hơn các doanh nghiệp khác hoạt động trong cùng lĩnh vực”. Theo tác giả Lƣu Văn Nghiêm thì: “Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu.
Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất”. Theo Philip Kotler cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở 6 hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”.TS Cao Minh Nghĩa cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá…mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”. Nhƣ vậy có thể thấy dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con ngƣời, là hoạt động có tính đặc thù riêng của con ngƣời trong xã hội phát triển, có sự cạnh tranh cao, có yếu tố bùng phát về công nghệ, minh bạch về pháp luật, minh bạch chính sách của chính quyền.
Trong luận văn này tác giả hiểu: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. * Đặc điểm của dịch vụ: Dịch vụ là một hàng hóa đặc biệt, nó có những nét đặc trƣng riêng mà hàng hóa hữu hình không có. Theo Philip Kotler dịch vụ có 5 đặc điểm nổi bật của nó là: 7 Tính vô hình Mau hỏng Không chia cắt Dịch đƣợc vụ Không Khô lƣu trữ đồ đƣợc nh Sơ đồ 1.
Các đặc điểm của dịch vụ (Nguồn: Philip Kotler) (1) Tính vô hình: Không tồn tại dƣới dạng vật chất nghĩa là dịch vụ không có hình hài rõ rệt. Các dịch vụ đều vô hình, không thể thấy trƣớc khi tiêu dùng. (2) Tính không chia cắt đƣợc (Không chuyển giao quyền sở hữu): Dịch vụ thƣờng đƣợc sản xuất ra và tiêu dùng đồng thời hay nói cách khác quá trình sản xuất và quá trình tiêu dùng diễn ra đồng thời. Thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia.
Nếu dịch vụ do một ngƣời thực hiện, thì ngƣời cung ứng là một bộ phận của dịch vụ đó. Điều này có nghĩa là hành động sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời với nhau, đòi hỏi cả nhà sản xuất và ngƣời tiêu dùng cùng tham gia tại địa điểm của nhà sản xuất, vì vậy không chia cắt đƣợc dịch vụ hay nói cách khác dịch vụ có tính không chuyển giao sở hữu. (3) Tính không ổn định, không đồng nhất: Không có chất lƣợng đồng nhất; Điều này cũng có nghĩa là hầu hết nhân viên của đơn vị cung cấp dịch vụ đều tiếp xúc với ngƣời tiêu dùng ở một mức độ nào đó và đƣợc khách hàng nhìn nhận nhƣ một phần không thể tách rời khỏi sản phẩm dịch vụ đó. Chất lƣợng nhiều dịch vụ đƣợc xác định bởi thái độ và hành vi của nhân viên mà không thể đƣa ra đƣợc 8 những bảo đảm thông thƣờng cũng nhƣ không thể có sự ép buộc về pháp lý.
Chẳng hạn nhƣ không thể ép nhân viên phải mỉm cƣời với khách. Một mục tiêu chính của hầu hết chiến lƣợc marketing dịch vụ là tạo ra những cách thức để tách rời hành động mua sắm với hành động tiêu dùng. Vì tính chất này nên khó để đánh giá đƣợc chất lƣợng dịch vụ .