CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay tiêu dùng Quan điểm của PGS. TS Nguyễn Thị Mùi (Quản trị NHTM, 2006): “Cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể (NHTM và người vay), trong đó một bên (NHTM) chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia (người vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn (gốc và lãi) cho bên cho vay vô điều kiện theo thời hạn đã thỏa thuận”.
Quan điểm của GS.TS Nguyễn Văn Tiến (Quản trị NHTM, 2013), “CVTD là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng cho các KHCN, hộ gia đình nhằm tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu của khách hàng” như: Trang thiết bị, mua sắm nhà cửa, các phương tiện đi lại, và các nhu cầu chi tiêu cho y tế, giáo dục … nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của các cá nhân, gia đình. Theo Điều 2 thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì “ Cho vay là hình thức cấp tín dụng theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi ”. Theo Điều 3 thông tư 43/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định cho vay tiêu dùng của Công ty tài chính thì “ Cho vay tiêu dùng là viêc công ty tài chính cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng là cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng của khách hàng, gia đình của khách hàng ” Theo tác giả cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng cá nhân một khoản tiền để sử dụng 9 vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng của khách hàng, gia đình của khách hàng. Đặc điểm cho vay tiêu dùng Một là: Giá trị mỗi khoản vay nhỏ, số lượng các khoản vay lớn.
CVTD mà đối tượng đi vay là cá nhân, hộ gia đình để sử dụng vào mục đích mua sắm hàng hóa, dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt. Giá trị của khoản vay được xác định dựa trên giá trị của những hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng đang có nhu cầu tiêu dùng mà những hàng hóa, dịch vụ này thường có giá trị không lớn. Hơn nữa, khi đi vay khách hàng thường đã có một phần tiền tích lũy, tiết kiệm được nên giá trị khoản vay nhỏ hơn tổng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Trong khi đó, nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của mỗi con người nên việc phát sinh những khoản vay tiêu dùng là rất lớn.
Chính vì vậy mà với số lượng khách hàng lớn thì tổng giá trị các khoản vay tiêu dùng cũng không phải nhỏ. Hai là: Các khoản CVTD có mức độ rủi ro cao. Khách hàng của hoạt động CVTD là các cá nhân và hộ gia đình cho nên hoạt động CVTD ngoài việc phải chịu ảnh hưởng từ phía chủ quan của người tiêu dùng mà còn phải chịu thêm tác động khách quan khác từ bên ngoài. Một số nguyên nhân chủ yếu là: + Thông tin tài chính của khách hàng CVTD thường không rõ ràng và đầy đủ như thông tin về KHDN.
Đối với bất kỳ khoản vay nào thì tư cách người đi vay luôn là yếu tố được ngân hàng đánh giá cao. Tư cách của khách hàng là một yếu tố rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay nhưng ngân hàng lại rất khó xác định, thu thập và thẩm định thông tin chính xác về khách hàng. Điều này khiến ngân hàng dễ gặp phải rủi ro thông tin bất cân xứng đối với khoản vay này. Khách hàng có thể tìm cách trốn tránh trì hoãn, không trả nợ khoản vay cho dù có khả năng tài chính, đây là rủi ro về tín dụng ngân hàng cũng dễ gặp phải.
10 + Đối với cho vay sản xuất kinh doanh, nguồn trả nợ được lấy từ kết quả kinh doanh, còn trong CVTD thì nguồn trả nợ là thu nhập của khách hàng hoặc tài sản của khách hàng vay vốn. Do đó, nếu khách hàng vay gặp phải vấn đề về sức khỏe, mất việc làm hay xảy ra biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập hàng tháng thìNgân hàng sẽ gặp khó khăn trong công tác thu hồi nợ vay, lúc này nợ quá hạn hoặc nợ xấu của món vay tiêu dùng bắt đầu ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh, lợi nhuận cũng như uy tín của các ngân hàng. Đây là rủi ro tín dụng mà các ngân hàng thường khó lường trước được. Vì vậy CVTD có rủi ro cao hơn so với các loại cho vay trong lĩnh vực thương mại, sản xuất kinh doanh và công nghiệp.
Xuất phát từ những đặc điểm đó, lãi suất cho vay của loại hình CVTD thường cao hơn lãi suất cho vay trong các lĩnh vực khác. Ba là: Các khoản vay tiêu dùng có lãi suất cao ít được điều chỉnh. Trong hoạt động cho vay, lãi suất CVTD thường được cố định, đặc biệt là trong CVTD trả góp. Ngay khi khoản vay được giải ngân giữa ngân hàng và khách hàng thì mức lãi suất sẽ được áp đặt và duy trì trong suốt thời gian vay.
Hơn nữa khách hàng đi vay để bù đắp nhu cầu thiếu hụt tài chính tạm thời nên khi vay tiền khách hàng thường không mấy quan tâm đến lãi suất thay vào đó khách hàng sẽ quan tâm tới số tiền được giải ngân, số tiền phải trả định kỳ, thời gian giải ngân và khả năng có thể trả nợ. Khách hàng lúc này coi vay mượn là thỏa mãn cuộc sống chứ không phải là một lựa chọn để tạo ra lợi nhuận. Ngoài ra, do quy mô của từng khoản vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao, vì vậy lãi suất CVTD thường cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay khác trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp. Bốn là: CVTD có khả năng tạo ra lợi nhuận cao.
Do tính chất các khoản CVTD để bù đắp nhu cầu thiếu hụt tài chính tạm thời của KH nên thông thường nó được cho vay với lãi suất cao. Cho vay CVTD với lãi suất cao là do ngân hàng phải bỏ chi phí lớn và dễ gặp rủi ro hơn so với các loại cho vay khác, hơn nữa tâm lý khách hàng vay thường muốn nhanh chóng thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của mình nên ít quan tâm tới lãi suất vay phải trả khi vay mà họ 11 thường quan tâm tới số tiền phải trả định kỳ hơn. Hơn nữa nếu như trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khách hàng đặt yếu tố lãi lỗ lên hàng đầu thì trong chi tiêu,tiêu dùng khách hàng lại đặt yếu tố hiệu quả,thỏa mãn lên hàng đầu cho dù có gặp phải chi phí bỏ ra cao hơn. Năm là: CVTD có chi phí bình quân cao Do đặc điểm của vay tiêu dùng là cho vay cá nhân, hộ gia đình trong toàn xã hội với số lượng nhiều và phân tán rộng, cho nên để duy trì và phát triển hoạt động CVTD, các NHTM sẽ tốn kém nhiều chi phí cho các hoạt động: - Mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng cáo tiếp thị tạo thuận lợi trong việc tiếp cận đối tượng KHCN ở từng địa bàn, khu vực.
- Phát triển đội ngũ cán bộ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ. - Ngoài ra còn có các chi phí phát sinh như: Chi phí quản lý, văn phòng phẩm, điện nước, điện thoại, công tác hỗ trợ chi phí nhân viên… Quy mô của từng món vay nhỏ, nhưng số lượng các khoản vay nhiều trong khi chi phí để thực hiện một khoản vay khách hàng cá nhân không chênh lệch nhiều so với một khoản vay doanh nghiệp có quy mô lớn.Vì vậy chi phí bình quân trên một đồng vốn cho vay mà ngân hàng phải chi cao hơn các loại cho vay khác. Sáu là: CVTD có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế Nhu cầu tiêu dùng của một người phụ thuộc vào thu nhập, mà thu nhập phụ thuộc vào rất nhiều vào yếu tố, trong đó có chu kỳ nền kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng thu nhập của người dân tăng lên, nhu cầu tiêu dùng cũng tăng theo.
Đồng thời các nhà sản xuất được khuyến khích đầu tư, các mặt hàng tiêu dùng sản xuất ra không chỉ đa dạng về chủng loại, mẫu mã mà còn đảm bảo cả về chất lượng, khuyến khích nhu cầu tiêu dùng của dân cư. Khi đó nếu thu nhập của người dân chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng, họ sẽ phát sinh nhu cầu vay, bởi họ kỳ vọng trong tương lai sẽ có khả năng về mặt tài chính để trả nợ. Điều này có thể thấy rõ trong những giai đoạn kinh tế khủng hoảng, nhu cầu vay tiêu dùng bùng nổ rất nhanh chóng. Các hình thức cho vay tiêu dùng.
Có nhiều loại hình thức cho vay tiêu dùng, nhưng chủ yếu tập trung vào các hình thức như sau: 1. Theo mục đích vay vốn: Theo mục đích tiêu dùng thì CVTD được chia thành ba loại bao gồm: - CVTD bất động sản: Khoản vay với mục đích mua nhà hoặc sửa chữa, xây dựng nhà ở, nhà ở dự án. + Số tiền cho vay có thể lớn so với số tiền ở các món CVTD khác. + Trong danh mục sản phẩm CVTD thì CVTD bất động sản thường có thời hạn dài nhất.
- Cho vay hàng tiêu dùng lâu bền: Các khoản vay cho mua sắm tài sản như: Nội thất, trang thiết bị nhà cửa, ô tô… và các tài sản này có giá trị giá trị ở mức trung bình trong khi tính khả dụng khá cao nên được nhiều khách hàng lựa chọn nhu cầu mua sắm. Giá trị của các khoản vay có thể không lớn nhưng bù lại số lượng của khoản vay thường nhiều. TSĐB cho món vay có thể là tài sản từ quyền sử dụng đất hoặc TSĐB được hình thành từ chính vốn vay.