CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Những luận điểm cơ bản về phát triển dịch vụ bảo lãnh ngân hàng Cùng với xu hướng phát triển kinh tế thế giới, các dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển, trong đó bảo lãnh là một dịch vụ được thực hiện trên cơ sở cam kết của ngân hàng thực hiện nghĩa vụ tài chính của ngân hàng trong tương lai, là hình thức tín dụng “qua chữ ký”. Bảo lãnh xuất hiện vào giữa những năm 60 của thế kỷ 20 tại Mỹ, nhưng phải đến đầu những năm 70 thì bảo lãnh bắt đầu phát triển khá mạnh và lan rộng khắp các nước trên thế giới, bảo lãnh bắt đầu được sử dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế. Kể từ đó đến nay, khả năng ứng dụng bảo lãnh ngày càng rộng rãi phục vụ giao dịch phát sinh trong lĩnh vực thương mại, tài chính… cũng như các giao dịch trong nước và ngoài nước. Vị trí của bảo lãnh ngân hàng ngày càng được khẳng định vai trò quan trọng của bảo lãnh không chỉ tài trợ vốn mà còn góp phần hạn chế rủi ro cho các chủ thể khi thiết lập và thực hiện các quan hệ giao dịch quốc tế.
Thực chất bảo lãnh ngân hàng là một trong các hình thức cấp tín dụng, nhưng khác các hình thức cấp tín dụng khác như: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính… khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, NHTM không phải cung ứng vốn cho khách hàng mà chỉ dùng uy tín và khả năng tài chính của mình để đảm bảo thực hiện tài chính trong tương lai. Như vậy, bảo lãnh ngân hàng là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và mang nhiều tiện ích cho ngân hàng. Do được NHTM bảo lãnh mà trong nhiều trường hợp, khách hàng không phải xuất vốn mà vẫn được ngân hàng bảo đảm nghĩa vụ liên quan đến thời gian thanh toán, nhận hàng, chất lượng hàng hóa, nghĩa vụ nộp thuế … Chính vì vậy, bảo lãnh ngân hàng ngày càng phát triển và góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế ngày càng phát triển.1 Khái niệm về bảo lãnh ngân hàng, phát triển dịch vụ bảo lãnh ngân hàng Về bảo lãnh ngân hàng, có thể hiểu theo nhiều khía cánh khác nhau: Bảo lãnh ngân hàng là một biện pháp bảo đảm mang tính dự phòng, theo đó, định chế tài chính phát hành cam kết ( the Guarantor) sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính cho bên nhận bảo lãnh ( the beneficiary) thay cho khách hàng ( Principal) khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ đã cam kết Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức cấp tín dụng thông qua sự cam kết của ngân hàng với khách hàng (Ths Bùi Diệu Anh, TS Hồ Diệu, TS Lệ Thị Hiệp Thương, 2011,“ Nghiệp vụ Tín Dụng Ngân Hàng”) Theo thông tư số 28/2012/TT-NHNN ngày 03/10/2012( có hiệu lực từ ngày 2/12/2012) của NHNN Việt Nam về việc quy định về bảo lãnh ngân hàng, thì “ Bảo lãnh ngân hàng ( sau đây gọi bảo lãnh) là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận” Về phát triển dịch vụ bảo lãnh thì: Phát triển dịch vụ bảo lãnh của NHTM được hiểu là các hoạt động nhằm: (i) tăng trưởng dịch vụ bảo lãnh thông qua việc tăng trưởng số dư bảo lãnh bình quân, tăng thị phần dịch vụ qua các năm, gia tăng thu nhập từ dịch vụ bảo lãnh, mở rộng số lượng khách hàng, giữ chân khách hàng hiện tại…, (ii) bên cạnh đó, đa dạng hóa các sản phẩm bảo lãnh qua các năm, tăng cường uy tín ngân hàng trên thị trường, nâng cao chất lượng dịch vụ bảo lãnh và kiểm soát được rủi ro giúp đảm bảo sự tăng trưởng an 3 toàn và hiệu quả (Theo luận văn “ Phát triển dịch vụ bảo lãnh tại BIDV Chi Nhánh Phú Tài” của Nguyễn Thùy Trang) Theo tác giả luận văn thì “ Phát triển dịch vụ bảo lãnh ngân hàng là gia tăng số lượng bảo lãnh đã phát hành cũng như số dư bảo lãnh, thu nhập ròng từ dịch vụ bảo lãnh tăng, đa dạng hóa danh mục sản phẩm bảo lãnh…, đồng thời, áp dụng công nghệ hiện đại tiên tiến nhằm theo dõi, kiểm soát rủi ro bảo lãnh kết hợp với việc nâng cao chất lượng dịch vụ bảo lãnh nhằm thỏa mãn ngày càng tốt nhu cầu của khách hàng trên cơ sở đảm bảo mục tiêu tăng trưởng của ngân hàng” 1.2 Phân loại các hình thức bảo lãnh ngân hàng 1.1 Căn cứ vào phạm vi -Bảo lãnh trong nước: là hình thức bảo lãnh giữa ngân hàng với khách hàng thực hiện các giao dịch kinh tế phát sinh trong nước -Bảo lãnh ngoài nước:là hình thức bảo lãnh giữa ngân hàng với khách hàng thực hiện các giao dịch kinh tế phát sinh giữa chủ thể trong nước với chủ thể nước ngoài trong thương mại quốc tế và thanh toán quốc tế 1.2 Căn cứ vào đồng tiền bảo lãnh -Bảo lãnh bằng nội tệ: ngân hàng cam kết thực hiện bảo lãnh bằng đồng tiền trong nước -Bảo lãnh bằng ngoại tệ: ngân hàng cam kết thực hiện bảo lãnh bằng ngoại tệ như: USD, EUR, JPY… 1.3 Căn cứ vào phương thức phát hành -Bảo lãnh trực tiếp: là hình thức bảo lãnh mà ngân hàng bảo lãnh thực hiện hành vi cam kết bảo lãnh chịu trách nhiệm trực tiếp đối với người được bảo lãnh. Người được bảo lãnh phải trực tiếp hoàn trả nợ và lãi phát sinh cho ngân hàng bảo lãnh khi 4 ngân hàng bảo lãnh thực hiện cam kết bảo lãnh thông qua việc cho vay để thực hiện cam kết tài chính.
Bảo lãnh trực tiếp rất phổ biến còn được hiểu là bảo lãnh thông thường. Tham gia hình thức này có ba bên tham gia: người bảo lãnh, người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh. -Bảo lãnh gián tiếp: là hình thức bảo lãnh mà ngân hàng bảo lãnh thực hiện hành vi cam kết bảo lãnh đối với người được bảo lãnh thông qua một ngân hàng trung gian phục vụ cho người được bảo lãnh, dựa trên cơ sở bảo lãnh của ngân hàng trung gian đối với người được bảo lãnh. Người được bảo lãnh không trực tiếp hoàn trả nợ và lãi cho ngân hàng bảo lãnh mà phải thông qua ngân hàng trung gian khi ngân hàng bảo lãnh thực hiện cam kết bảo lãnh thông qua việc cho vay để thực hiện cam kết tài chính.
Hình thức này được gọi là hình thức tái bảo lãnh. Tham gia hình thức này có bốn đối tượng đó là người bảo lãnh, người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh, ngân hàng trung gian bảo lãnh -Bảo lãnh có xác nhận: tương tự như trong thư tín dụng có xác nhận, người thụ hưởng có thể yêu cầu một ngân hàng khác xác nhận bảo lãnh do ngân hàng phát hành đưa ra. Khi có yêu cầu thực hiện bảo lãnh, người thụ hưởng có thể xuất trình chứng từ đề nghị của ngân hàng xác nhận hoặc là ngân hàng phát hành thanh toán.4 Căn cứ vào mục đích bảo lãnh -Bảo lãnh vay vốn: là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh, về việc sẽ trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả hoặc không trả đầy đủ, đúng hạn nợ vay đối với bên nhận bảo lãnh, tức là thực hiện nghĩa vụ cam kết đã bảo lãnh. Bảo lãnh vay vốn bao gồm bảo lãnh vay vốn trong nước và bảo lãnh vay vốn nước ngoài.
-Bảo lãnh thanh toán: là cam kết của ngân hàng đối với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp khách 5 hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn, tức là thực hiện nghĩa vụ cam kết đã bảo lãnh -Bảo lãnh dự thầu: là cam kết của NHTM với bên mời thầu để bảo đảm nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng. Trường hợp khách hàng phải nộp phạt do vi phạm quy định đấu thầu mà không nộp hoặc không nộp đầy đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì ngân hàng bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ trả thay, tức là thực hiện nghĩa vụ cam kết đã bảo lãnh -Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, thì ngân hàng bảo lãnh sẽ thực hiện thay tức là thực hiện nghĩa vụ cam kết đã bảo lãnh. -Bảo lãnh đảm bảo cam kết chất lượng sản phẩm: là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc khách hàng thực hiện đúng các thỏa thuận về chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh.
Trường hợp khách hàng vi phạm chất lượng sản phẩm và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì ngân hàng bảo lãnh sẽ thực hiện thay, tức là ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết. -Bảo lãnh hoàn thanh toán:là một loại bảo lãnh, do ngân hàng phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước cho khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm các cam kết với bên nhận bảo lãnh và phải hoàn trả tiền nhưng không hoàn trả hoặc hoàn trả không đủ số tiền ứng trước cho bên nhận bảo lãnh thì ngân hàng sẽ hoàn trả số tiền ứng trước cho bên nhận bảo lãnh, tức là thực hiện nghĩa vụ cam kết đã bảo lãnh. 6 -Bảo lãnh bảo hành: là một bảo lãnh do ngân hàng phát hành cho bên nhận bảo lãnh với cam kết là bảo đảm bồi hoàn cho người thụ hưởng bảo lãnh nếu có bất kỳ nhược điểm nào trong vận chuyển hàng hóa, xây dựng… hoặc bên đối tác không bảo dưỡng máy móc vì bất kỳ lý do nào.
Số tiền bảo lãnh phải được đồng ý trong hợp đồng và ngày hết hạn phụ thuộc vào phạm vi hoạt động, mục đích bảo lãnh -Bảo lãnh thanh toán thuế: là một bảo lãnh do ngân hàng phát hành cho Cơ quan hải quan về việc bảo đảm nghĩa vụ đóng thuế của khách hàng.