CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG CÁC VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Nội dung cơ bản về vốn tự có của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cơ bản về vốn tự có Hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào định nghĩa khái niệm Vốn tự có của ngân hàng, tổ chức tín dụng mà chỉ đưa ra ý nghĩa của “Vốn tự có” và cách tính toán vốn tự có. Khoản 1, Điều 8, Mục 2, Chương II, Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Thông tư 36) có nêu ý nghĩa của vốn tự có: “Vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là cơ sở để xác định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quy định tại Thông tư này” Khoản 1, Điều 8, Mục 2, Chương II, Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Thông tư 22) đưa ra cách tính vốn tự có “Vốn tự có bao gồm tổng Vốn cấp 1 và Vốn cấp 2 trừ đi các khoản giảm trừ quy định tại Phụ lục 1 Thông tư này” Như vậy, theo các văn bản quy phạm pháp luật, không có định nghĩa về mặt học thuật của “vốn tự có”, nhưng từ ý nghĩa và cách tính vốn tự có, chúng ta có thể hiểu, vốn tự có là vốn riêng của ngân hàng thương mại do các chủ sở hữu đóng góp, được tạo ra trong quá trình kinh doanh thông qua lợi nhuận giữ lại, đồng thời đây là tấm đệm chống chịu các loại rủi ro mà ngân hàng gặp phải trong hoạt động kinh doanh của mình.
Đặc điểm của vốn tự có Là nguồn vốn được hình thành từ chính nguồn lực nội tại của ngân hàng, vốn tự có dù có tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu tổng nguồn vốn nhưng đóng vai trò vô cùng quan trọng vì các nguồn vốn khác đều được hình thành trên cơ sở là nguồn vốn này. 7 Vốn tự có là nguồn vốn ổn định và luôn vận động, tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hàng. Mọi quyết định tăng thêm vốn luôn gắn liền với yêu cầu phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới, mở rộng hoạt động của ngân hàng. Vốn tự có đóng vai trò quyết định về quy mô hoạt động của ngân hàng.
Các tiêu chuẩn an toàn trong hoạt động ngân hàng do cơ quan quản lý đặt ra như tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, giới hạn cấp tín dụng…đều được căn cứ trên cơ sở chung là vốn tự có của ngân hàng. Ngoài ra, vốn tự có được hình thành từ những nguồn vốn hợp pháp được phép lưu chuyển trên thị trường tài chính. Trong điều kiện hội nhập của nền kinh tế, vốn tự có của ngân hàng sẽ mang tính quốc tế gắn liền với môi trường cạnh tranh cao khi mà các ngân hàng thương mại đang mở rộng việc thu hút đầu tư thông qua thị trường tại chính bằng các công cụ tài chính đa dạng. Chức năng của vốn tự có 1.
Chức năng bảo vệ Chức năng cơ bản nhất của vốn chủ sở hữu nói chung và vốn tự có nói riêng đó là chức năng bảo vệ. Vốn tự có là tấm đệm chống đỡ, bù đắp tổn thất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đối với khách hàng, khả năng thanh khoản là vấn đề quan trọng nhất mà họ quan tâm về hoạt động của ngân hàng. Bởi thế, ngân hàng thương mại phải có tích lũy đủ vốn tự có để đảm bảo được khả năng thanh toán trong mọi trường hợp, bên cạnh đó phải dự trữ được lượng vốn đủ để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ.
Chính vì thế, vốn tự có luôn là đối tượng được NHNN quan tâm để xây dựng các quy định, giới hạn chặt chẽ nhằm giám sát việc quản lý vốn tự có của ngân hàng thương mại. Chức năng hoạt động Không chỉ có chức năng là đệm an toàn, vốn tự có còn được dùng để đầu tư đáp ứng yêu cầu hoạt động của ngân hàng thương mại. Trước hết, vốn tự có tham gia vào việc hình thành nên tài sản cố định cho các ngân hàng thương mại hoạt động. Tài sản cố định là điều kiện về vật chất và công nghệ có ý nghĩa quyết định đến quy mô của một ngân hàng thương mại.
Khả năng 8 gia tăng và hiện đại hóa tài sản cố định tùy thuộc vào quy mô của vốn tự có và chiến lược của các nhà quản trị ngân hàng. Tuy nhiên, theo Luật các TCTD Việt Nam, các ngân hàng thương mại chỉ được phép đầu tư vào tài sản cố định không quá 50% vốn tự có của ngân hàng. Vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển của các hình thức dịch vụ mới, cho những chương trình và trang thiết bị mới. Khi một ngân hàng thương mại phát triển, nó cần vốn bổ sung để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển của các hình thức dịch vụ mới, cho những chương trình và trang thiết bị mới.
Hầu hết các ngân hàng thương mại đều mở rộng và phát triển cơ sở vật chất so với lúc đầu và sự bổ sung vốn sẽ cho phép ngân hàng mở rộng trụ sở, xây dựng thêm những văn phòng chi nhánh để theo kịp sự phát triển của thị trường và tăng cường chất lượng phục vụ khách hàng. Ngoài ra, khi sử dụng vốn tự có vào việc đầu tư các tài sản ngắn hạn và dài hạn như đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ,… là để đem lại lợi nhuận cho ngân hàng thương mại cũng đồng thời nhằm duy trì mức vốn khả dụng cho ngân hàng thương mại. Chức năng điều chỉnh Với chức năng điều chỉnh, vốn tự có xác lập các giới hạn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại. Cả các cơ quan quản lý ngân hàng và thị trường tài chính đều đòi hỏi rằng vốn ngân hàng thương mại cần phải được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay và của những tài sản rủi ro khác.
Khi thành lập chi nhánh mới hoặc triển khai các hoạt động kinh doanh mới, quyết định đầu tư, cho vay, mua sắm tài sản, hay khi quyết định mua lại, sáp nhập… để có đủ khả năng thực hiện các quyết định trên và có đủ cơ sở pháp lý để được cấp giấp phép kinh doanh thì số vốn tự có của ngân hàng cũng phải được xác định lại sao cho tương ứng với các yêu cầu thực tế có thể phát sinh. Các cơ quan quản lý, giám sát ngân hàng sử dụng các quy định về tỷ lệ giới hạn vốn tự có như một công cụ vĩ mô để điều tiết các hoạt động của các ngân hàng thương mại. Các giới hạn này được luật hóa bằng các tiêu chuẩn pháp lý cụ thể với hàng loạt các quy định ràng buộc có liên quan, dựa trên cơ sở phân loại mức độ rủi ro của các tài sản đầu tư, mức độ khó khăn, sự khác biệt giữa các ngân hàng…. Lý luận về quản lý an toàn vốn tại ngân hàng thương mại Trong khuôn khổ của Luận văn này, an toàn vốn được hiểu là “an toàn vốn tự có”.
Như đã trình bày ở trên, vốn tự có là tấm đệm chống chịu các loại rủi ro của ngân hàng. Bởi vậy, vốn tự có chính là thước đo sự an toàn của hoạt động ngân hàng, nếu “tấm đệm” này quá mỏng, hoạt động của ngân hàng sẽ rất rủi ro và tiềm ẩn nguy cơ đổ vỡ. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng diễn ra liên tục và rủi ro tiềm ẩn luôn xuất hiện trong mọi giao dịch của ngân hàng. Vì thế, an toàn vốn chính là: sự bảo đảm độ lớn của vốn tự có luôn đủ/dư thừa để bao phủ hết mọi loại rủi ro đã được lượng hóa trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Khái niệm quản lý an toàn vốn Là một trong số những tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn vừa là thước đo phản ánh khả năng bảo đảm tài sản của ngân hàng, vừa là chỉ số đề nhà đầu tư đánh giá được khả năng thanh toán các khoản nợ có thời hạn từ nguồn lực tự có, qua đó đánh giá được rủi ro của ngân hàng. Vì thế đây là chỉ số rất quan trọng, có ý nghĩa đối với ngân hàng trong cả công tác quản trị cũng như kinh doanh, bảo đảm uy tín của ngân hàng đối với khách hàng. Quản lý an toàn vốn là tập hợp các biện pháp, công cụ định tính và định lượng nhằm tính toán tài sản rủi ro và lượng vốn bổ sung phù hợp để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn theo yêu cầu của quốc gia (các Thông tư của NHTW) hoặc theo tiêu chuẩn quản lý nội bộ ngân hàng để phòng chống các loại rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt trong hoạt động kinh doanh. Quản lý an toàn vốn là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của công tác quản trị rủi ro trong ngân hàng.
Để thực hiện tốt công tác này, ngân hàng cần phải xây dựng cơ cấu tổ chức và mô hình quản lý vốn nội bộ với sự tham gia của các phòng/ban chức năng liên quan để bảo đảm áp dụng chặt chẽ các công cụ kiểm soát mức độ an toàn vốn, bảo đảm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vốn. Những công cụ thường được sử dụng trong công tác quản lý an toán vốn thường bao gồm: - Công cụ chính sách: Ban hành đầy đủ, kịp thời và cập nhật các quy định, hướng dẫn thực hiện quản lý an toàn vốn trên cơ sở yêu cầu từ Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan chức năng, 10 - Công cụ báo cáo: Trụ sở chính (HO) nghiên cứu xây dựng các mẫu báo cáo nội bộ chi nhánh, báo cáo quản trị toàn ngân hàng về việc thực hiện quản lý an toàn vốn. Kết hợp với nền tảng dữ liệu sẵn có của ngân hàng để xây dựng hệ thống tính toán tự động về tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng. Từ đó có được góc nhìn tổng thể cũng như cụ thể về các vấn đề/trường hợp có dấu hiệu rủi ro về an toàn vốn, - Công cụ kiểm soát nội bộ: Các Phòng/Ban trong ngân hàng được giao nhiệm vụ kiểm tra/kiểm soát nội bộ nghiên cứu các báo cáo, dữ liệu về an toán vốn thường xuyên và có hướng xử lý tổng thể cho các vấn đề mang tính hệ thống cũng như phương án xử lý triệt để đối với những vấn đề đặc thù.