Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân bao gồm tất cả các ngành công nghiệp chuyên môn hóa, các xí nghiệp công nghiệp thực hiện chức năng khai thác, chế biến và sửa chữa. Do đó, vấn đề phát triển công nghiệp ở Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, nghiên cứu chuyên sâu, giải quyết cả về lý luận và thực tiễn việc phát triển công nghiệp. Các công trình nghiên cứu này thể hiện dưới hình thức sách chuyên khảo, bài đăng tạp chí, luận văn, luận án của các tác giả.
Trong phạm vi nghiên cứu của Luận án, tác giả đã tiến hành khảo sát, phân loại các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài thành các nhóm như sau: 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về phát triển công nghiệp Cuốn sách Chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam trong quá trình đổi mới Võ Đại Lược [71]. Theo tác giả, điều kiện chủ yếu cho sự phát triển tự chủ của nền kinh tế Việt Nam là quá trình đổi mới KT-XH, thực hiện chính sách mở cửa và hòa nhập với cộng đồng thế giới, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo lập nền kinh tế thị trường ngày càng hoàn thiện và hiện đại trên cơ sở đó đẩy mạnh quá trình CNH, tạo dựng một nền công nghiệp phát triển hiện đại là những nội dung cơ bản của quá trình phát triển kinh tế tự chủ của Việt Nam, làm cho nền kinh tế được đảm bảo phát triển vững chắc và lâu bền, có vị trí ngày càng cải thiện trên trường quốc tế và khu vực. Cuốn sách Quá trình phát triển công nghiệp ở Việt Nam, triển vọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Phạm Xuân Nam [76] trên cơ sở nhìn lại quá trình phát triển công nghiệp và vấn đề công nghiệp hóa ở Việt Nam, đã đánh giá những thành tựu đạt được, những vấn đề tồn đọng từ lâu hoặc mới nảy sinh, nêu lên những bài học thành công và không thành công, đề xuất một số khuyến 7 nghị cho việc định hướng xây dựng mô hình CNH gắn với HĐH trên cơ sở khoa học và công nghệ ở nước ta trong thập kỷ 90 và những năm tiếp theo.
Cuốn sách Quá trình hình thành, phát triển công nghiệp Việt Nam của Viện Dự báo chiến lược Khoa học và Công nghệ [180] đã khái quát quá trình hình thành, phát triển của công nghiệp Việt Nam từ trước năm 1945 đến năm 1996, trong đó, công trình phân chia quá trình phát triển công nghiệp làm ba giai đoạn phát triển cơ bản: giai đoạn trước năm 1945, công nghiệp Việt Nam chủ yếu dựa vào công nghiệp chính quốc Pháp; từ năm 1945 đến năm 1985, công nghiệp Việt Nam được hình thành chủ yếu dựa vào sự giúp đỡ của các nước XHCN, và bị chi phối bới cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu, bao cấp kéo dài nên nền công nghiệp nước ta hầu như không phát triển; giai đoan 1986 - 1996, với sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, công nghiệp Việt Nam bước đầu phát triển. Trên cơ sở làm rõ các giai đoạn phát triển của công nghiệp Việt Nam, công trình đã đề xuất các giải pháp để tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH. Cuốn sách Dự báo tình hình phát triển công nghiệp Việt Nam: Lý thuyết, triển vọng và giải pháp do Nguyễn Công Nhự chủ biên [79] đưa ra nhận định: Công nghiệp Việt Nam kỹ thuật công nghệ thấp, tỷ trọng làm gia công lắp ráp còn cao, chưa chủ động được một số chủng loại vật tư, linh kiện, phụ tùng gia công lắp ráp. Cộng với kinh nghiệm quản lý và hội nhập quốc tế trong nền kinh tế thị trường của các chủ doanh nghiệp và các cơ quan Nhà nước có liên quan còn bị hạn chế, đã tác động không nhỏ đến năng lực cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam.
Tuy nhiên, theo tác giả, công nghiệp Việt Nam trong thế kỷ XXI có rất nhiều cơ hội và tiềm năng phát triển, vấn đề quan trọng là chúng ta phải biết nắm bắt, tận dụng tốt nhất các thời cơ, thế mạnh có được và phải có chiến lược phát triển đúng đắn. Cuốn sách Phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất trong quá trình công nghiệp hóa do Nguyễn Chơn Trung, Trương Gia Long đồng chủ biên [124] đã khẳng định phát triển các KCN, khu chế xuất trở thành một trong những 8 phương thức huy động vốn và khai thác có hiệu quả nguồn vốn, khoa học công nghệ, trình độ tổ chức quản lý của các nhà đầu tư quốc tế vào quá trình phát triển KT-XH ở Việt Nam. Đầu tư nước ngoài đã tạo ra bước ngoặt của sự phát triển công nghiệp Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH, đồng thời từng bước góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu chiến lược của thời kỳ đổi mới. Trong cuốn sách Việt Nam 20 năm đổi mới, tác giả Hoàng Trung Hải có bài viết “Ngành công nghiệp Việt Nam 20 năm đổi mới” [64] đánh giá những thành tựu nổi bật của công nghiệp Việt Nam như đổi mới về CNH xã hội chủ nghĩa (XHCN) và chính sách cơ cấu; đổi mới trong cải tạo xây dựng, củng cố quan hệ sản xuất XHCN, thực hiện chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất; đổi mới cơ chế quản lý công nghiệp.
Bên cạnh việc khẳng định những thành tựu, tác giả cũng đánh giá những hạn chế, thiếu sót “Phát triển công nghiệp tuy đạt tốc độ cao nhưng chưa thật vững hắc, biểu hiện ở chỗ giá trị gia tăng chưa đạt yêu cầu, tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp bình quân 1986 - 2005 chỉ đạt khoảng 9,3%/năm” [64, tr. Trên cơ sở đánh giá những thành tựu và hạn chế, tác giả đề xuất phương hướng, mục tiêu phát triển công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010. Cuốn sách Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam do Hoàng Văn Châu chủ biên [10] khẳng định công nghiệp hỗ trợ phát triển sẽ giúp các ngành sản xuất chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào, chủ động lựa chọn được nhà cung cấp, cắt giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành, tăng năng lực cạnh tranh. Công nghiệp hỗ trợ phát triển sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn được chiến lược phát triển phù hợp với chuỗi giá trị gia tăng của ngành trong phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế.
Các tác giả khẳng định: Công nghiệp hỗ trợ có vai trò quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, đặc biệt là các nước đến sau và phát triển công nghiệp dựa trên nguồn vốn và công nghiệp bên ngoài thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chính vì vậy, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, việc xây dựng công nghiệp hỗ trợ là yêu cầu bắt buộc để có thể thực hiện công nghiệp hóa nhanh chóng và bền vững [10, tr. 9 Cuốn sách Toàn cảnh công nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập [65] giới thiệu tổng quan về những chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp của Đảng và Nhà nước; định hướng quy hoạch phát triển của toàn ngành công nghiệp Việt Nam và một số ngành mũi nhọn; giới thiệu năng lực sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp. Cuốn sách Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Đánh giá thực trạng và hệ quả do Trần Đình Thiên chủ biên [94] khẳng định việc phát triển công nghiệp hỗ trợ được xem là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Việt Nam, tuy nhiên, thực trạng ngành còn yếu và cần những chính sách phù hợp, những định hướng rõ ràng về chiến lược để phát triển.
Vì vậy, cuốn sách đã tập trung phân tích thực trạng, đồng thời, đề xuất một số định hướng và giải pháp đồng bộ để có thể phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp, góp phần đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước. Công trình Phát triển đất nước thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Phan Kế Tuấn [127] đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về nước công nghiệp theo hướng hiện đại và nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN. Đánh giá về quá trình phát triển công nghiệp Việt Nam, tác giả cho rằng: “trong những năm đổi mới vừa qua, phát huy những lợi thế so sánh của đất nước, công nghiệp nước ta đã có bước phát triển mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng đạt mức cao hơn mức bình quân chung của nền kinh tế, quy mô ngày càng mở rộng, trình độ công nghệ dần dần được nâng cao” [127, tr. Luận án Tiến sĩ Công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam của Hà Thị Hương Lan [66] đã đánh giá thực trạng của công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang từng bước phát triển, góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp phát triển, luồng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tăng lên, cải cách doanh nghiệp nhà nước đang được tiến hành nhanh chóng.
Việt Nam có trên 60.000 doanh nghiệp với các quy mô khác nhau đang phát triển và hình thành các cơ sở sản xuất nguyên liệu, phụ tùng, linh kiện, vật tư hỗ trợ. phục vụ nhu cầu lắp ráp các mặt 10 hàng công nghiệp trong nước và xuất khẩu. Trong đó, chiếm tỷ trọng lớn là các cơ sở sản xuất phục vụ cho nhu cầu lắp ráp các sản phẩm tiêu thụ nội địa. Với những ưu đãi thu hút vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhiều doanh nghiệp FDI đã trực tiếp đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất hỗ trợ tại Việt Nam.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, tác giả luận án đã mạnh dạn ra quan đểm và các nhóm giải pháp nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo. Bài viết Chính sách quy hoạch phát triển khu công nghiệp Việt Nam: nhìn từ góc độ phát triển bền vững của tác giả Nguyễn Thị Thơm [97] đã khẳng định xây dựng và phát triển các KCN phục vụ cho quá trình CNH, HĐH, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. “Đến nay nước ta đã có 154 KCN, phân bố ở 55 tỉnh thành trong cả nước, với khoảng 2.600 dự án, tổng vố đầu tư 25,3 tỷ USD, đóng góp quan trọng vào giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu, tạo việc làm cho lao động” [97, tr.