CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. Khái niệm và đặc điểm công nghệ thông tin a. Khái niệm công nghệ thông tin CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin.
Ở nước ta, trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993 cho rằng: "CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội" [10, tr. Công nghệ thông tin là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin. Theo quan điểm này thì công nghệ thông tin là một hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, chủ yếu là máy tính và mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa … của con người. Đặc điểm công nghệ thông tin Sự phát triển CNTT tạo ra hai tác động cơ bản.
Thứ nhất, nó góp phần hình thành ngành công nghiệp công nghệ cao: công nghiệp phần cứng, công nghiệp phần mềm và công nghiệp nội dung số, thứ hai là tạo tiền đề nâng cao năng suất, hiệu quả, thúc đẩy hội nhập của quá trình kinh doanh, quản lý và điều hành, [13, tr. Luan van 11 Quá trình phát triển của công nghệ thông tin diễn ra qua bốn giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn thu thập và xử lý thông tin thông thường bằng tay hay bằng sổ sách v. Sang đến giai đoạn hai đã bắt đầu có sự can thiệp của máy móc, giúp con người xử lý chính xác hơn, tin cậy hơn, nhanh hơn. Giai đoạn ba là giai đoạn sử dụng máy tính, việc xử lý thông tin hơn hẳn giai đoạn trước, nhiều việc xử lý được tự động hóa, do đó thông tin biến thành tri thức mới ( xử lý thông tin cho người ta những hiều biết mới, các mối quan hệ có tính quy luật.
Chuyển sang giai đoạn thứ tư là giai đoạn “thông minh”, máy móc không chỉ làm khâu tính toán mà còn tổng hợp số liệu, phân tích số liệu, rút ra kết luận một cách rất nhanh chóng, chuẩn xác và đưa ra cách giải quyết các vấn đề. Đây là giai đoạn nhân nhanh trí thức con người. Trên thế giới hiện nay CNTT đang phát triển nhanh chóng và đi vào toàn bộ đời sống con người. Đối với các nước đang phát triển như nước ta thì hai đặc điểm của CNTT cần phải đặc biệt lưu ý là phát triển hết sức nhanh và giá thành giảm rất nhanh.
Với sự biến đổi không ngừng, thì nhiều công nghệ ra đời sau sẽ tốt hơn, và nhiều tính năng, dễ sử dụng hơn công nghệ ra đời trước. Đó là điều kiện để các nước đi sau đi thẳng vào cái mới nhất, tranh thủ công nghệ mới nhất của các nước phát triển đi trước. Phân loại công nghệ thông tin [1], [5] Có thể phân loại CNTT như sau: Khoa học máy tính: các lý thuyết cơ bản của ngành CNTT như lý thuyết tính toán, lý thuyết khai thác cơ sở dữ liệu,… Kỹ nghệ máy tính: liên quan đến thiết kế và sản xuất phần cứng máy tính. Công nghệ phần mềm: các công nghệ sản xuất phần mềm, quy trình, công cụ, ngôn ngữ lập trình.
Hệ thống thông tin: lý thuyết và ứng dụng CNTT trong việc quản lý Luan van 12 hệ thống thông tin của doanh nghiệp, tổ chức. Ứng dụng CNTT: ứng dụng và triển khai CNTT trong các lĩnh vực hoạt động của cuộc sống. Công nghệ phần mềm có vai trò vô cùng quan trọng trong lĩnh vực CNTT. Ngày nay chúng ta có thể sản xuất ra các hệ thống phần mềm lớn và hữu ích là nhờ phần lớn vào sự phát triển của công nghệ phần mềm.
Công nghệ phần mềm áp dụng một cách tiếp cận có hệ thống, có kỷ luật và định lượng được cho việc phát triển, sử dụng và bảo trì phần mềm. Công nghệ phần mềm còn sử dụng kiến thức của các lĩnh vực như kỹ thuật máy tính, khoa học máy tính, quản lý, toán học, quản lý dự án, quản lý chất lượng. Sự phát triển như vũ bão của CNTT khiến thế giới ngày càng thu nhỏ, ngày càng hòa nhập làm một, xóa nhòa những khoảng cách về thời gian và không gian. Thế giới đang bàn tính việc cùng làm “thương mại điện tử” rồi “chính phủ điện tử”, “tiêu dùng điện tử”… Đây là giai đoạn CNTT phát triển vượt bậc, tác động sâu sắc và rộng khắp.
Trong lịch sử khoa học – kỹ thuật từ trước tới nay chưa có một lĩnh vực khoa học nào, có một phát minh công nghệ nào lại có tác động to lớn như CNTT. Nó được sử dụng ở mọi lĩnh vực, đến từng gia đình, từng con người, gây ra những thay đổi sâu sắc về phong cách hoạt động của mọi đối tượng từ các khối liên minh tới từng quốc gia và từng người dân. Quan niệm về phát triển công nghệ thông tin [4], [5], [17] Ngày nay, thông tin được coi là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội, là công cụ để điều hành, quản lý, chỉ đạo của mỗi quốc gia, là phương tiện hữu hiệu để mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc, là nguồn cung cấp tri thức mọi mặt cho công chúng và là nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội. Sự chênh lệnh về trình độ phát triển thông tin giữa các nước là một đặc điểm về quy mô và trình độ phát triển trong thời Luan van 13 kỳ cách mạng khoa học và công nghệ.
Nước nào không vượt qua được những thách thức về thông tin, nước đó mất cơ hội phát triển và có nguy cơ mất khả năng tự chủ. Thiếu thông tin, sẽ gặp khó khăn trong việc đưa ra các quyết định hoặc các quyết định sẽ bị sai lệch, thiếu cơ sở khoa học, không thực tiễn và trở nên kém hiệu quả. Chính vì vậy, phát triển thông tin là một bộ phận quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Thành công hay thất bại của một quốc gia tuỳ thuộc rất lớn vào khả năng làm chủ, chiếm được lợi thế thông tin.
Để bảo vệ quyền lợi thiết thực của mình trong các hoạt động chung trên thế giới, các quốc gia hay tổ chức quốc tế đang nỗ lực tìm kiếm những thông tin có giá trị nhất phục vụ cho mục tiêu hoạt động của mình. Trên thực tế, thông tin đã từng được coi là yếu tố quyết định sự thành bại của một tổ chức. Phát triển công nghệ thông tin là xác định những quan điểm chỉ đạo, mục tiêu cơ bản và những giải pháp chủ yếu để thúc đẩy toàn bộ hệ thống thông tin không ngừng phát triển, cung cấp ngày càng kịp thời thông tin đa dạng, phong phú, có chất lượng, đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng, góp phần thực hiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Căn cứ việc phân loại theo phương thức thể hiện thông tin, thì phạm vi thông tin được đề cập trong phát triển công nghệ thông tin chủ yếu là các loại hình thông tin thuộc chức năng quản lý của ngành văn hoá - thông tin.
Đó là: thông tin bằng chữ viết, thông tin bằng tiếng nói, thông tin bằng hình ảnh, thông tin trên mạng Internet (đa phương tiện). Một số loại hình thông tin mang tính chuyên ngành như thông tin viễn thông, thông tin khoa học kỹ thuật v. Vai trò của phát triển công nghệ thông tin đối với phát triển kinh tế - xã hội Trong nền kinh tế hiện nay CNTT có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, nó là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kích thích tăng lực đổi mới đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế quốc dân của mỗi nước nói riêng, hay CNTT là điểm tựa cho sự phát triển kinh tế xã hội. Có thể nói rằng ít có ngành kinh tế nào phát triển không dựa vào sự hỗ trợ của CNTT.
Mở rộng khả năng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế CNTT góp phần làm thay đổi trang thiết bị sản xuất, nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ vào quá trình sản xuất. Việc khai thác hiệu quả các thông tin thông qua công cụ CNTT không chỉ nâng cao năng lực chỉ đạo điều hành của doanh nghiệp mà còn cải thiện khả năng cạnh tranh và tạo ra các cơ hội mới cho doanh nghiệp, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công nghệ thông tin mang lại cả cơ hội và thách thức lớn cho các nền kinh tế mới phát triển và đang phát triển. Nếu nắm bắt được các tiềm năng của công nghệ thông tin, có thể hướng tới khả năng vượt qua các rào cản lạc hậu về phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ, để nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cải thiện điều kiện y tế, giáo dục đào tạo, cũng như tăng nhanh mức tăng trưởng kinh tế.
Góp phần thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Sự phát triển CNTT đã góp phần tạo ra nhiều ngành nghề mới, thay đổi và hiện đại hóa các ngành kinh tế hiện đại. Nhiều nước trên thế giới, công nghiệp CNTT đã trở thành ngành kinh tế chủ đạo, có tốc độ hàng năm Luan van 15 từ 20-30%, tạo ra nhiều việc làm cho nhân dân. CNTT phát triển làm gia tăng nhanh giá trị sản xuất đặc biệt là trong các ngành công nghiệp, dịch vụ, do đó giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh về công nghiệp và dịch vụ. Tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường CNTT góp phần nâng cao năng lực phục vụ nhân dân, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hơn, mở rộng phạm vi kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp ra ngoài lãnh thổ quốc gia.