Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN MẦM NON Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP ỨNG DỤNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về phát triển chương trình đào tạo giáo viên Chương trình đào tạo (Curriculum) có gốc Latinh là Currere, có nghĩa là “to run” (chạy, điều hành hoặc “to run a course” - điều hành một khoá học). Do vậy, định nghĩa truyền thống của chương trình đào tạo là “một khoá học” [35].Doll (1996) cho rằng: “Chương trình GD của nhà trường là ND GD và các HĐ chính thức và không chính thức; quá trình triển khai ND HĐ, thông qua đó người học thu nhận được kiến thức và sự hiểu biết, phát triển kỹ năng, thái độ, tình cảm và các giá trị đạo đức dưới sự tổ chức của nhà trường”.
Theo White (1995), “chương trình là một kế hoạch GD phản ánh các mục tiêu GD, đào tạo mà nhà trường theo đuổi. Bản kế hoạch đó cho biết ND, PPDH cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra”. Tim Wentling (1993): “Chương trình là bản thiết kế tổng thể cho một HĐ đào tạo. Hoạt động đó có thể là một khoá học trong thời gian vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm.
Bản thiết kế tổng thể đó cho ta biết ND cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể kỳ vọng ở người học sau khi kết thúc khoá học, phác 5 họa qui trình thực hiện ND đào tạo, PP đào tạo và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và toàn bộ các vấn đề của bản thiết kế này được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ”. Tác giả RaphTyler cho rằng CT gồm 4 yếu tố cơ bản: Mục tiêu; ND; PP hay qui trình; Đánh giá kết quả ĐT. Theo Nguyễn Hữu Chí, Viện KHGDVN (2002), [28], [29] “CTĐT là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các HĐ GD trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ ND học tập, các phương tiện, PP, cách tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra”. Ông khẳng định, một CTĐT có thể bao gồm: Nhu cầu; mục đích, mục tiêu; ND; phương thức; các hình thức tổ chức HĐ; các hình thức KTĐG kết quả ĐT.
Nhiều các công trình của các tác giả nghiên cứu về CTĐT và vấn đề PTCTĐT [28], [29], [30], [32], [35], [36], [38], [39], [40], [41], [42], [43], [44], [45], [46], [47], [48], [49] là cơ sở cho hệ thống lí luận của đề tài. Nghiên cứu về phát triển chương trình đào tạo giáo viên mầm non theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng Nghiên cứu về PTCTĐT GVMN theo ĐHNNUD là một trong những yếu tố rất quan trọng quyết định đến chất lượng ĐT của các cơ sở GD có ĐT GVMN. GVMN đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của GDMN hay không phụ thuộc vào CT và quá trình ĐT. Mặt khác, CTĐT GVMN của một cơ sở GD phụ thuộc vào định hướng PT và sứ mệnh, tầm nhìn của cơ sở GD đó.
Để hiện thực hóa sứ mệnh ngày càng hoàn thiện chất lượng ĐT đáp ứng nhu cầu XH thì phải liên tục phát triển CTĐT. PT CTĐT GVMN theo ĐHNNUD cần xuất phát từ thực tế NN - chuyên môn và các yếu tố liên quan đến HĐ lao động NN. Cần nghiên cứu phân tích rõ đặc điểm chuyên môn nghề, phân tích các công việc thừa hành thực tế trong môi trường lao động NN cụ thể để thiết kế, xây dựng CTĐT GVMN theo định 6 hướng nghề nghiệp ứng dụng. PT CTĐT theo ĐHNNUD để hình thành các NL chuyên môn, NL nghề nghiệp.
Các chương trình không chỉ bao hàm mục tiêu học tập/đào tạo mà còn phản ánh cả các khía cạnh ND, PP, phương tiện, hình thức tổ chức học tập, KTĐG phù hợp thực tế. Nghị quyết 29- Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế đã mở ra cho nền GD nước nhà nhiều cơ hội để phát triển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực nhưng đòi hỏi ngành GD phải nỗ lực không ngừng, trong đó các cơ sở GD phải là nòng cốt [15]. Ngày 18/10/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1982/QĐ-TTg về việc phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam (Vietnam Qualification Framework - VQF). VQF được áp dụng cho các trình độ được quy định tại Luật Giáo dục đại học năm 2012 và Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014.
VQF được thiết kế để thực hiện mục tiêu: Phân loại, chuẩn hóa NL, khối lượng học tập tối thiểu và văn bằng, chứng chỉ phù hợp với các trình độ thuộc GD đại học và GD nghề nghiệp Việt Nam; Kết nối yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực của bên sử dụng lao động với hệ thống trình độ đào tạo qua các HĐ đào tạo, đo lường, KTĐG và kiểm định chất lượng; Xây dựng quy hoạch cơ sở GD, xây dựng chính sách đảm bảo chất lượng và CĐR của CTĐT ở các bậc trình độ; Thiết lập tham chiếu trình độ khu vực và quốc tế, làm cơ sở cho việc công nhận lẫn nhau về trình độ, nâng cao chất lượng và NL cạnh tranh nguồn nhân lực; Liên thông giữa các trình độ ĐT, xây dựng XH học tập và học tập suốt đời. Các tác giả Nguyễn Thị Tính, Hà Mỹ Hạnh (2014) trong một nghiên cứu về: “Phát triển chương trình đào tạo GV theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng ở trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên” đề cập tới PTCT ĐTGV theo 7 ĐHNNUD chính là “cách tiếp cận phát triển nhằm trang bị cho SV học vấn nền tảng rộng, có khả năng dịch chuyển nghề nghiệp trong thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu đổi mới GDPT sau 2018. Để đạt được mục tiêu phát triển chương trình cần phải thực hiện các giải pháp: Thay đổi nhận thức của CBQL, giảng viên, tăng cường nguồn nhân lực và nguồn tài chính, xây dựng cơ chế phối hợp giữa trường sư phạm với trường phổ thông trong phát triển chương trình” [48]. Theo Tôn Quang Cường (2018) “đáp ứng yêu cầu đào tạo GV đáp ứng yêu cầu xã hội trong bối cảnh cuộc cách mạng KHCN 4.0 hiện nay, hầu hết các cơ sở đào tạo GV đã và đang dựa trên các cơ sở khoa học, cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển CTĐT và kinh nghiệm xây dựng, phát triển CTĐT GV của các nước có nền GD tiên tiến để thiết kế, xây dựng và phát triển CTĐT tập trung vào NL, đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp, chuẩn đầu ra” [29].
PTCTĐT GVMN được thực hiện theo nhiều cách tiếp cận tuỳ thuộc vào trình độ PT của mỗi quốc gia. Với các nước PT, CTĐT GVMN được PT dựa trên khung trình độ quốc gia, trong đó xác định rõ NL của người học có được sau khi kết thúc khoá học của ngành hoặc nghề ở trình độ đào tạo cao đẳng. NL của người học được xác định dựa trên hồ sơ NN và NL của người lao động, được xác định của nhiều bên tham gia bao gồm bên sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và cơ quan QL nhà nước. CTĐT được PT theo ĐHNNUD này đáp ứng được nhu cầu và đòi hỏi của của thị trường lao động.
Chưa có một nghiên cứu chuyên biệt nào nghiên cứu về PT CT đào tạo GVMN theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng tại trường CĐSP Điện Biên. Do đó, những công trình của những nhà nghiên cứu đi trước sẽ là những gợi dẫn quý báu để tôi thực hiện đề tài này. Chương trình đào tạo Theo từ điển GD học- NXB Từ điển bách khoa 2001, khái niệm CTĐT được hiểu là: “Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội 8 dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức, PP, phương tiện, CSVC, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở GD-ĐT”. CT khung hay CTĐT khung: Là bản thiết kế phản ánh cấu trúc tổng thể về thời lượng và các thành phần, ND đào tạo cơ bản của CTĐT, làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình ĐT theo các nhóm, ngành, nghề cụ thể ở từng cấp, bậc học hoặc loại hình đào tạo.
Có thể hiểu CT khung là khung CT và phần ND đào tạo cơ bản, lõi, (bắt buộc) tương ứng với những thời lượng nhất định để đảm bảo đạt được mục tiêu đào tạo với chuẩn trình độ đào tạo tương ứng. Với quan điểm quá trình có thể xem: CT như là một phần của khối lượng kiến thức được chuyển hóa qua khâu thiết kế; Chương trình như là kết quả chắc chắn đạt được của người học vào cuối khóa học - Sản phẩm đào tạo; Chương trình là một quá trình (tổ chức thực hiện) [42] Như vậy CTĐT hay CT giảng dạy không chỉ phản ánh ND ĐT mà là một văn bản hay bản thiết kế thể hiện tổng thể các thành phần của quá trình ĐT, điều kiện, cách thức, quy trình tổ chức, đánh giá các HĐ ĐT để đạt được mục tiêu ĐT. Ở nước ta, Luật giáo dục 2009 (Sửa đổi) - Điều 6 quy định: “Chương trình GD thể hiện mục tiêu GD; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc ND GD, PP và hình thức tổ chức HĐ GD, cách thức đánh giá kết quả GD đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo” “Chương trình GD nghề nghiệp thể hiện mục tiêu GD nghề nghiệp, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung GD nghề nghiệp, 9 PP và hình thức tổ chức HĐ GD, cách thức đánh giá kết quả GD đối với các môn học, ngành, nghề, trình độ đào tạo của GD nghề nghiệp; bảo đảm liên thông với các chương trình GD khác” (Điều 35) CT khung cho từng ngành ĐT đối với trình độ CĐ, ĐH bao gồm “cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỉ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học, giữa lý thuyết và thực hành, thực tập. Căn cứ vào chương trình khung, trường cao đẳng, trường đại học xác định chương trình đào tạo của trường mình” (Điều 41- Luật GD 2009 Sửa đổi) [21].
Như vậy từ những nghiên cứu có nhận xét sơ bộ như sau: Các tác giả mặc dù có những quan niệm rất khác nhau về CT nhưng đều có một số điểm chung.