đặt vấn đề xóa bỏ chế độ tư hữu của những nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng, thông qua trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và đòi hỏi quan hệ sản xuất thích ứng. Quy luật chung nhất này (quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất) quy định sự vận động phát triển tự nhiên, của lịch sử nhân loại từ thấp đến cao. Nội dung cơ bản, tính khoa học, cách mạng của “Tuyên ngôn” được công bố vào năm 1848 là dựa trên sự nhận thức và phân tích sâu sắc thấu đáo nội dung, yêu cầu của quy luật trên trong xã hội tư bản vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã chỉ ra rằng: sự cách mạng hóa công cụ sản xuất làm giai cấp tư sản hoàn toàn chiến thắng chế độ phong kiến.
Nhưng, chính sự phát triển của lực lượng sản xuất ngày càng khoét sâu mâu thuẫn giữa quá trình sản xuất mang tính xã hội với chế độ sở hữu mang tính tư nhân. Quan hệ sản xuất này trở nên cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất. Mọi sự đối phó, điều chỉnh trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản không thể giải quyết được mâu thuẫn này và tất yếu sẽ dẫn đến sự diệt vong của quan hệ sở hữu tư sản, sự diệt vong của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng như sự diệt vong đã xảy ra với các phương thức sản xuất trước đó. Nếu như xã hội tư sản hiện đại đã từng sinh ra từ trong lòng xã hội phong kiến đã bị diệt vong, sự thay thế của đại công nghiệp cho chế độ ruộng đất, phường hội phong kiến và ngay cả với công trường thủ công là một tất yếu không tránh khỏi, thì sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại trong lòng xã hội tư bản cũng tất yếu đẩy chủ nghĩa tư bản đến chỗ diệt vong, nhường chỗ cho một hình thái mới cao hơn là chủ nghĩa cộng sản.
Đó là lôgic tất yếu của lịch sử. Song song với việc vạch ra tiến trình lịch sử - tự nhiên của xã hội loài người dưới tác động của quy luật khách quan, C.Ăngghen đã xác định rõ lực lượng cơ bản tiến hành cuộc cách mạng xã hội ấy là giai cấp vô sản, đội ngũ những người công nhân đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, là sản phẩm của nền đại công nghiệp, là giai cấp triệt để cách mạng, phong trào đấu tranh của họ mưu cầu lợi ích cho khối đại đa số. Từ những tư tưởng cơ bản trên, “Tuyên ngôn” khẳng định rằng “giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ 11 khí giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy; những công nhân hiện đại, những người vô sản. Giai cấp tư sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó.
Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau. Ngoài việc khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, C.Ăngghen còn chỉ ra phương thức xóa bỏ chế độ tư hữu một cách tích cực qua một số tác phẩm của mình. Các ông cho rằng cần phải phê phán cái cũ, cái phi nhân tính, cái trật tự xã hội hiện hành nhưng không phải bằng ảo tưởng mà dựa trên cơ sở hiện thực. Trong “Lời nói đầu” nổi tiếng của tác phẩm “Phê phán Triết học pháp quyền của Hégel” (1843 - 1844), đánh dấu bước chuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản, C.Mác đã nhận định rằng: phê phán tôn giáo “ở thượng giới”, giỏi lắm chỉ cởi được sự tha hóa trong lĩnh vực tinh thần - tâm linh.
Trái lại, sự tha hóa của quần chúng lao động “ở cõi trần” trong sự “nghèo nàn hiện thực” gắn liền với chế độ tư hữu thì phải “phê phán pháp quyền”, “phê phán chính trị” - một sự phê phán kiểu mới không dừng lại ở “phẫn nộ” mà là “vạch trần”, một sự “phê phán giáp lá cà” mà theo C.Mác điều quan trọng là phải “đánh trúng nó” tức là đánh trúng vào cái trật tự tư sản - trật tự dựa trên sở hữu tư nhân cùng với đối kháng giai cấp cuối cùng trong lịch sử. Trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, C.Mác cũng đã nhấn mạnh: muốn xóa bỏ tư tưởng về chế độ tư hữu thì tư tưởng về chủ nghĩa cộng sản là hoàn toàn đủ rồi. Còn muốn xóa bỏ chế độ tư hữu trong thực tế thì phải có hành động cộng sản chủ nghĩa hiện thực. Lịch sử sẽ đem đến theo mình hành động cộng sản chủ nghĩa ấy.
Đồng thời trong tác phẩm này, C.Mác đã lột tả những cội rễ của lao động bị tha hóa trong tác động qua lại có tính nhân quả với hàng loạt các nhân tố gắn liền với chế độ tư hữu tư sản như : tư bản, tiền công, lợi nhuận, cạnh tranh,. Biểu hiện đầu tiên của lao động bị tha hóa nằm ngay ở quá trình lao động, và đụng chạm đến bản chất của sở hữu và phân phối. Người công nhân sản xuất ra các vật phẩm, nhưng chúng không thuộc về họ, mà của người khác. Toàn bộ sức lực và cuộc sống của họ dành cho lao động, còn thành quả lao động thì biến thành cái xa lạ với họ, tức thành cái bị tha hóa, tách khỏi người sản xuất.
12 Tha hóa trong quá trình lao động đã dẫn đến tha hóa ở bình diện rộng hơn – tha hóa bản thân con người, tha hóa loài, hay đời sống có tính loài của con người. Cuối cùng, sự tha hóa trong lao động, trong đời sống có tính loài được hiểu như tha hóa lẫn nhau (absonderung) giữa người với người, xét theo tổng thể các quan hệ xã hội. Vậy đâu là cơ sở xã hội của tha hóa? C.Mác trở về phân tích nguồn gốc của tư hữu, C.Mác nhận thấy rằng nội dung của khái niệm lao động bị tha hóa được xem xét như kết quả vận động của sở hữu tư nhân. Tuy nhiên, sự phân tích tiếp theo cho thấy mặc dầu sở hữu tư nhân vừa là cơ sở, vừa là nguyên nhân của lao động bị tha hóa, song trong thực tế thì ngược lại; nó hóa ra là kết quả của lao động bị tha hóa.Mác cũng nêu lên tư tưởng xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu, sự phủ định nó nhằm mục tiêu tiến bộ xã hội.
Như vậy để khắc phục tha hóa lao động, theo C.Mác, cần thủ tiêu một cách tích cực cơ sở xã hội làm nảy sinh và gia tăng sự tha hóa đó. Xã hội hiện tại, với những mâu thuẫn nảy sinh trong lòng nó và với những điều kiện hiện thực do nó sinh ra, đã tạo tiền đề cho quá trình này, quá trình giải phóng công nhân dưới hình thức chính trị. Trong vai trò của nhà giải phẫu xã hội, C.Mác nhận thấy cơ sở của những nghịch lý vừa nêu nằm ở chế độ tư hữu. Ông khảo sát quá trình này trong những biểu hiện đơn giản dễ thấy của nó, trong quan hệ giữa người với người – quan hệ sở hữu, phân phối sản phẩm lao động, rút ra từ đây tính tất yếu của xung đột xã hội dưới chủ nghĩa tư bản, cũng như tính tất yếu của đổi mới xã hội một cách tích cực.Mác tiên đoán về sự xóa bỏ chế độ tư hữu bằng chính sự vận động tự thân của nó.Mác chưa gọi học thuyết của mình là chủ nghĩa cộng sản, hay chủ nghĩa xã hội, nhưng ông xem nó là mục tiêu mà con người hướng tới , cùng với quá trình xóa bỏ chế độ tư hữu một cách tích cực.
“Xóa bỏ tích cực” được ngầm hiểu là xóa bỏ về căn bản quan hệ “tha hóa” giữa người với người trong quá trình hoạt động sản xuất, hoạt động sống nói chung, nhưng vẫn lưu giữ các yếu tố phù hợp trong điều kiện lịch sử mới, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển, nghĩa là không xóa bỏ sạch trơn, xóa bỏ theo kiểu thủ tiêu của chủ nghĩa hư vô. Xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu tức là xóa bỏ sự tha hóa con người, là sự chiếm hữu một cách thực sự bản chất con người bởi con người và vì con người. Sự “quay trở lại” bản chất con người chính là giải quyết tình trạng tha 13 hóa, mà trước hết là tha hóa lao động. Con người không chỉ có thể, mà cần phải thực hiện sự xoay chiều ấy như một mệnh lệnh lịch sử, như nhiệm vụ đặt ra cho bản thân trong cuộc hành trình giải phóng.
Sự “quay trở lại” tích cực mà C.Mác nhấn mạnh không phải là quay trở lại một cách máy móc, theo hình ảnh vòng tròn khép kín, mà theo hình ảnh vòng xoắn ốc, hàm chứa yếu tố lọc bỏ, kế thừa, phát triển. Chính cách tiếp cận như thế đã làm sáng tỏ tư tưởng biện chứng về phát triển xã hội ở C. Chủ nghĩa cộng sản, theo C.Mác, với tính cách là việc con người hoàn toàn quay trở lại chính mình với tính cách là con người xã hội, nghĩa là có tính chất người – sự quay trở lại này diễn ra một cách có ý thức và có giữ lại tất cả sự phong phú của sự phát triển trước đó. Chủ nghĩa cộng sản đó có được phải bằng cuộc đấu tranh giai cấp, cuộc đấu tranh cuối cùng sẽ nổ ra thành một cuộc cách mạng mà trong đó giai cấp vô sản sẽ lật đổ giai cấp tư sản bằng bạo lực và thiết lập sự thống trị của mình, để xây dựng một xã hội mới - xã hội cộng sản, đồng thời vạch ra cương lĩnh sách lược cho cách mạng vô sản.
Giai đoạn thứ nhất trong cách mạng vô sản là giai đoạn giành lấy dân chủ [87, 567]. Mục đích trước mắt của các Đảng cộng sản và giai cấp vô sản là lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền [106, 558]. Cuộc cách mạng chính trị giành chính quyền chỉ là tiền đề để giai cấp vô sản thực hiện cuộc cách mạng về kinh tế. Đó là xóa bỏ chế độ tư hữu tư sản, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.
“Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị, và để tăng thật nhanh số lượng lực lượng sản xuất lên [87, 567].