Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Phượng, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thế Nghĩa tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2012), thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62.05). Đề tài mang tên: "Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh".
Văn bản luận án đặt vấn đề xuất phát từ đòi hỏi bức thiết của thực tiễn lịch sử và lý luận cách mạng. Sau sự thoái trào, sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực xơ cứng tại Liên Xô và Đông Âu, phong trào xã hội chủ nghĩa đứng trước yêu cầu phải tự đổi mới để tìm ra các bước đi, phương pháp và mô hình phát triển thích hợp. Đối với các quốc gia có điểm xuất phát thấp về kinh tế, con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa không thể diễn ra bằng các mệnh lệnh chủ quan, duy ý chí hay đốt cháy giai đoạn. Thực tiễn công cuộc Đổi mới tại Việt Nam chỉ ra rằng Chính sách Kinh tế mới (NEP) của V.I. Lênin, với hạt nhân là việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước làm "mắt xích trung gian", "bước chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất", giữ vai trò định hướng căn bản. Thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn đi đầu cả nước trong việc chủ động "xé rào", thử nghiệm và triển khai đa dạng các hình thức kinh tế trung gian. Tuy nhiên, sự phát triển này đồng thời bộc lộ nhiều khó khăn, nghịch lý và mâu thuẫn cả về phương diện lý luận triết học lẫn điều hành thực tiễn kinh tế - xã hội. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống nghiên cứu hệ thống dưới góc độ triết học - kinh tế về mô hình này tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở làm sáng tỏ lý luận chung về chủ nghĩa tư bản nhà nước, tiến hành phân tích thực trạng vận dụng loại hình kinh tế này tại Thành phố Hồ Chí Minh với các hình thức tổ chức kinh tế mới, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp mang tính định hướng nhằm sử dụng có hiệu quả kinh tế tư bản nhà nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Để thực hiện mục đích đó, tác giả xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Làm rõ lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa tư bản của C. Mác – Ph. Ăngghen, lý luận phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước của V.I. Lênin và sự vận dụng sáng tạo lý luận đó của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn đất nước.
- Phân tích, đánh giá thực trạng vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước (chỉ rõ thành tựu, yếu kém và nguyên nhân cốt lõi); vạch ra những nghịch lý, mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội trong quá trình phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
Về đối tượng nghiên cứu, luận án khảo sát một số vấn đề chung về chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới góc độ triết học - kinh tế, trọng tâm là học thuyết chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu mới của V.I. Lênin với tư cách "khâu trung gian" tất yếu, là phương thức phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản ở các nước có điểm xuất phát thấp. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi thời gian nghiên cứu chủ yếu từ thời kỳ Đổi mới (năm 1986) đến năm 2012; đồng thời có sự khảo sát, so sánh đối chiếu với các giai đoạn lịch sử kinh tế Sài Gòn 1954 - 1975 và giai đoạn chuyển tiếp 1975 - 1986.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án phân loại các công trình đã công bố theo 4 hướng nghiên cứu chính:
Hướng thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chủ nghĩa tư bản nhà nước, tính tất yếu, thực chất và vai trò lịch sử trong thời kỳ quá độ. Hướng này bao gồm các công trình: Kinh tế tư bản nhà nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam do Trương Thị Minh Sâm chủ biên; bài viết Quan niệm của V.I. Lênin về phát triển kinh tế tư bản nhà nước của Đặng Hữu Toàn; NEP – Một cách tiếp cận mới mang tính nguyên tắc của V.I. Lênin về chủ nghĩa xã hội của Nguyễn Thế Nghĩa; Chính sách Kinh tế mới của V.I. Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt Nam của Lê Thanh Sinh; Về thành phần kinh tế tư bản nhà nước của Trần Ngọc Hiên; Quan điểm của V.I. Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước – Bước phát triển mới của lý luận về chủ nghĩa xã hội của Phan Xuân Sơn; Chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu mới – địa vị lịch sử, các cơ hội lịch sử và công cuộc đổi mới của Lưu Hà Vỹ.
Hướng thứ hai: Nghiên cứu ứng dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tiêu biểu có các công trình: Chính sách Kinh tế mới của V.I. Lênin và vận dụng vào điều kiện ở nước ta của Trần Ngọc Hiên; Mấy vấn đề về chủ nghĩa tư bản nhà nước của Vũ Hữu Ngoạn và Khổng Doãn Hợi; Chủ nghĩa tư bản nhà nước ở nước ta hiện nay và xu hướng phát triển của Trần Đăng Thịnh; Vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước để phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta của Nguyễn Xuân Quang; Tư tưởng của V.I. Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước và sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay của Phạm Như Cương; Chủ nghĩa tư bản nhà nước – Từ quan niệm của V.I. Lênin đến sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới của Nguyễn Văn Thức; Từ chính sách "cộng sản thời chiến" đến chính sách Kinh tế mới của Vũ Văn Phúc; Vận dụng tư tưởng của V.I. Lênin về sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước theo tinh thần Đại hội X của Đảng của Nguyễn Văn Hậu.
Hướng thứ ba: Nghiên cứu thực tiễn phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước tại Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh. Hướng này gồm các công trình: đề tài Nghiên cứu vận dụng các hình thức kinh tế tư bản nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh của Ban Kinh tế Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh; Vấn đề vận dụng học thuyết của V.I. Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay của Nguyễn Chơn Trung; Viện sĩ – tiến sĩ Nguyễn Chơn Trung – Kinh nghiệm bước đầu của sự vận dụng mô hình kinh tế tư bản nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh của Trương Giang Long; cùng kỷ yếu Mười lăm năm xây dựng và phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp ở Việt Nam.
Hướng thứ tư: Nghiên cứu, đề xuất giải pháp và phân tích xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản đương đại. Hướng này tập hợp các kỷ yếu và bài viết: Thực trạng đầu tư và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các khu chế xuất, khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, Về lý luận, chính sách, giải pháp đối với thành phần kinh tế tư bản nhà nước. Luận án cũng điểm lại các tài liệu nghiên cứu quốc tế và trong nước về sự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản hiện đại như: Nhận thức về thời đại ngày nay của Vũ Văn Hiền; C. Mác, V.I. Lênin với chủ nghĩa xã hội trong thời đại ngày nay của Nguyễn Thanh Tuấn; Thế giới phẳng của Thomas Friedman; Thế giới cong của David M. Smick; Chủ nghĩa tư bản chống chủ nghĩa tư bản của Michel Albert; Nhìn về toàn cầu hóa của George Soros; Triết học mở và xã hội mở của Maurice Cornforth.
| Nhóm hướng nghiên cứu |
Trọng tâm học thuật |
Các tác giả, công trình tiêu biểu trong văn bản |
| Nhóm 1: Lý luận nền tảng |
Bản chất, tính tất yếu khách quan của chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu mới theo NEP |
Trương Thị Minh Sâm, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Thế Nghĩa, Lê Thanh Sinh, Trần Ngọc Hiên, Phan Xuân Sơn, Lưu Hà Vỹ |
| Nhóm 2: Vận dụng ở Việt Nam |
Thể chế hóa tư tưởng Lênin qua các kỳ Đại hội Đảng và chính sách thời kỳ Đổi mới |
Trần Ngọc Hiên, Vũ Hữu Ngoạn, Khổng Doãn Hợi, Trần Đăng Thịnh, Nguyễn Xuân Quang, Phạm Như Cương, Nguyễn Văn Thức, Vũ Văn Phúc, Nguyễn Văn Hậu |
| Nhóm 3: Thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh |
Khảo sát các mô hình kinh tế thí điểm, khu chế xuất, khu công nghiệp |
Ban Kinh tế Thành ủy TP.HCM, Nguyễn Chơn Trung, Trương Giang Long |
| Nhóm 4: Bối cảnh đương đại và giải pháp |
Điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa, mâu thuẫn lợi ích và chuyển dịch cơ cấu |
Hội thảo KCX/KCN TP.HCM, Vũ Văn Hiền, Thomas Friedman, David M. Smick, Michel Albert, George Soros, Paul A. Samuelson |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Phần lớn các công trình trước đây tiếp cận chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới giác độ kinh tế học thuần túy hoặc kinh tế chính trị học chuyên ngành. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống dưới cách tiếp cận triết học - kinh tế về sự phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh. Luận án lựa chọn giải quyết vấn đề dưới góc nhìn duy vật biện chứng, phân tích mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa kinh tế và chính trị, giữa cái phổ biến và cái đặc thù; làm rõ vai trò của nhân tố chủ quan (Đảng và Nhà nước) trong việc dung hợp hai mặt đối lập: sức mạnh kinh tế, kỹ thuật của tư bản với sức mạnh chính trị của nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm định hướng phát triển rút ngắn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nòng cốt là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác và Ph. Ăngghen; tư tưởng Hồ Chí Minh; học thuyết của V.I. Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chính sách Kinh tế mới (NEP); cùng đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Các khái niệm và khung phân tích cốt lõi được tác giả vận dụng gồm:
- Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Khái niệm "xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu" và khả năng phát triển "rút ngắn", bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội trung gian theo tiến trình lịch sử - tự nhiên.
- Khái niệm "chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu mới" của V.I. Lênin: hình thức kinh tế quá độ đặc thù, kết hợp sức mạnh kinh tế của tư bản với bản chất chính trị của nhà nước vô sản; đóng vai trò là "chiếc cầu nhỏ", "khâu trung gian" tổ chức lại sản xuất nhỏ, phân tán.
- Khung phân tích mâu thuẫn biện chứng: mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của sản xuất với quan hệ chiếm hữu tư nhân; mâu thuẫn giữa lợi ích tích lũy của nhà nước với lợi nhuận của nhà đầu tư tư bản và quyền lợi người lao động.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành triết học kết hợp với phương pháp nghiên cứu liên ngành kinh tế - xã hội. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp logic kết hợp với lịch sử: làm rõ tiến trình phát triển tư tưởng từ C. Mác, Ph. Ăngghen đến V.I. Lênin và sự vận dụng tại Việt Nam qua các mốc 1954, 1975, 1986 đến 2012.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: mổ xẻ từng hình thức kinh tế cụ thể (KCX, KCN, BOT, cổ phần hóa) và khái quát thành các quy luật vận động.
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp: đi từ các nguyên lý triết học phổ quát đến việc phân tích thực tiễn tại một địa phương cụ thể và ngược lại.
- Phương pháp khảo sát, thống kê tư liệu, hệ thống hóa và khái quát hóa: thu thập, xử lý các báo cáo thực tế, dữ liệu kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguồn tư liệu nghiên cứu của luận án gồm có: toàn tập các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và Hồ Chí Minh; hệ thống Văn kiện các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam; các nghị quyết của Thành ủy và báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của Ban Kinh tế Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh; số liệu hoạt động của Ban Quản lý các Khu chế xuất và Khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (HEPZA), Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (SHTP); cùng các công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Chương 1 xây dựng nền tảng triết học và lý luận chính trị qua 3 nội dung lớn:
Thứ nhất, quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về việc xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu và vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản. Tác giả phân tích các tác phẩm từ thời kỳ đầu đến giai đoạn chín muồi của chủ nghĩa Mác như Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), Hệ tư tưởng Đức (1845 - 1846), Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản (1847), Phê phán Cương lĩnh Gôta (1875) và lời tựa các lần tái bản Tuyên ngôn. Luận án khẳng định C. Mác và Ph. Ăngghen không chủ trương xóa bỏ tư hữu theo kiểu cảm tính, bình quân hay dùng sắc lệnh hành chính. Xóa bỏ chế độ tư hữu phải là một quá trình có tính quy luật, chỉ diễn ra khi lực lượng sản xuất đã phát triển chín muồi, làm cho quan hệ tư hữu trở thành xiềng xích cản trở sự phát triển đó. Khái niệm "xóa bỏ tích cực chế độ tư hữu" nghĩa là khắc phục tình trạng tha hóa lao động, giải phóng bản chất con người nhưng vẫn kế thừa, lưu giữ toàn bộ thành tựu vật chất, kỹ thuật đã đạt được. Về khả năng phát triển "rút ngắn", Ph. Ăngghen và C. Mác chỉ ra rằng lịch sử từng chứng kiến nhiều dân tộc bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội nhất định (như các dân tộc Slavơ, Đức bỏ qua chế độ chiếm hữu nô lệ; Bắc Mỹ, Canada bỏ qua chế độ phong kiến). Quá trình rút ngắn không có nghĩa là đốt cháy giai đoạn một cách tùy tiện mà đòi hỏi phải có thời kỳ quá độ với những nấc thang trung gian.
Thứ hai, quan điểm của V.I. Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu mới – con đường quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội. V.I. Lênin đã nối tiếp logic dự báo của C. Mác và Ph. Ăngghen để vận dụng vào thực tiễn nước Nga sau thời kỳ Chính sách Cộng sản thời chiến. Tác giả phân tích sự đối lập giữa hai kiểu chủ nghĩa tư bản nhà nước:
- Chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu cũ trong lòng chủ nghĩa tư bản độc quyền: là sự dung hợp giữa bộ máy nhà nước tư sản với các tổ chức tư bản lũng đoạn nhằm phục vụ lợi ích giai cấp tư sản, duy trì bóc lột và chi phối thị trường toàn cầu.
- Chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu mới dưới nhà nước chuyên chính vô sản: do giai cấp công nhân nắm chính quyền, nhà nước vô sản nắm giữ các huyết mạch kinh tế và công cụ kiểm kê, kiểm soát; dung nạp tư bản để phát triển lực lượng sản xuất, tổ chức lại nền sản xuất tiểu nông phân tán.
Chương này cũng phân tích xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Luận án khảo sát các luồng quan điểm phi Mácxít như lý thuyết kinh tế hỗn hợp với "hai bàn tay" (bàn tay vô hình của thị trường và bàn tay hữu hình của nhà nước) của Paul A. Samuelson; lý thuyết "xã hội mở" của George Soros; "quyền lực mềm" của Francis Fukuyama; nhận định về toàn cầu hóa qua "Thế giới phẳng" của Thomas Friedman và "Thế giới cong" của David M. Smick; hay luận điểm "chủ nghĩa tư bản chống chủ nghĩa tư bản" của Michel Albert. Luận án chứng minh chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thực hiện nhiều điều chỉnh lớn về lực lượng sản xuất (thúc đẩy kinh tế tri thức, số hóa, mạng hóa), về quan hệ sản xuất (sở hữu hỗn hợp, cổ phần hóa), về phương diện quản lý (chế độ tự quản, cộng quản) và phân phối lợi nhuận. Tuy nhiên, những điều chỉnh này không giải quyết được mâu thuẫn gốc rễ giữa tư bản và lao động, tỷ suất bóc lột lợi nhuận vẫn ở mức cao (trung bình 300%, cá biệt 700% - 800%), và các cuộc khủng hoảng chu kỳ vẫn tiếp diễn. Vì vậy, việc phủ định chế độ tư bản và tìm kiếm các hình thức quá độ trung gian lên chủ nghĩa xã hội là xu thế khách quan.
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa tư bản nhà nước. Luận án phân tích sự tiếp thu tư tưởng NEP và chủ nghĩa tư bản nhà nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc sử dụng tư bản phục vụ ích nước lợi dân. Tiếp đó, tác giả điểm lại quá trình phát triển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội thời kỳ Đổi mới: từ việc phê phán, loại bỏ mô hình tập trung quan liêu bao cấp đến việc thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, xác lập thành phần kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chương 2: Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội – Vận dụng vào thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 2 tập trung phân tích thực tiễn sinh động trên địa bàn nghiên cứu qua 4 tiểu mục:
2.1. Đặc điểm lịch sử kinh tế Sài Gòn và đặc điểm kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Tác giả phân tích đặc điểm kinh tế Sài Gòn giai đoạn 1954 - 1975 mang nặng tính chất tiêu thụ, dịch vụ phụ thuộc vào viện trợ ngoại bang, cơ sở công nghiệp chế biến quy mô nhỏ nhưng sở hữu mạng lưới thương mại phát triển và hạ tầng cảng biển thuận lợi. Sau năm 1975, Thành phố Hồ Chí Minh thừa hưởng các tiềm năng, thế mạnh lớn về vị trí địa lý, giao thương quốc tế, nguồn nhân lực nhạy bén với cơ chế thị trường, nhưng đồng thời đối mặt với những hạn chế về kết cấu hạ tầng quá tải, thiếu hụt vốn và công nghệ.
2.2. Vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1975 đến 1986.
Giai đoạn trước Đổi mới, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi khởi nguồn các cuộc "xé rào" tìm tòi phương thức sản xuất kinh doanh mới. Trước tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng nguyên liệu và sản xuất đình đốn, thành phố đã manh nha thực hiện các hình thức liên kết kinh tế, hợp tác gia công với tư nhân, tạo tiền đề thực tiễn cho sự chuyển đổi nhận thức lý luận tại Đại hội VI (năm 1986).
2.3. Các hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước được vận dụng ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ Đổi mới.
Luận án đi sâu phân tích 4 hình thức tổ chức kinh tế cụ thể:
- Hình thức khu chế xuất, khu công nghiệp và khu công nghệ cao: Điển hình là Khu chế xuất Tân Thuận (TTZ - liên doanh giữa Công ty Tân Thuận TTC và đối tác nước ngoài) dưới sự điều hành của Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Khu chế xuất Thành phố Hồ Chí Minh (HEPZA); tiếp đó là Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (SHTP) và Vườn ươm doanh nghiệp phần mềm Quang Trung (SBI). Các mô hình này thể hiện rõ sự kết hợp giữa nhà nước (đất đai, cơ chế, quản lý) với tư bản nước ngoài (vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản trị và thị trường).
- Hình thức hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT), Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (BTO), Xây dựng - Chuyển giao (BT), Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO): Áp dụng nhằm huy động vốn tư nhân trong và ngoài nước đầu tư vào kết cấu hạ tầng giao thông, cấp thoát nước và năng lượng đô thị khi ngân sách nhà nước hạn hẹp.
- Hình thức cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Thực chất là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu đơn nhất của nhà nước sang chế độ sở hữu hỗn hợp, dung nạp tư bản tư nhân trong nước, tư bản nước ngoài và cổ phần của người lao động vào cùng một thực thể kinh tế.
- Hình thức hợp tác xã kiểu mới và kinh tế trang trại: Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp tại các huyện ngoại thành, liên kết giữa xã viên nông dân với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ, áp dụng tiêu chuẩn nông nghiệp bền vững (GAP) và quản lý chất lượng (HACCP).
2.4. Đánh giá chung về việc thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đóng góp tích cực: Giải phóng sức sản xuất, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn viện trợ phát triển (ODA); tiếp thu kỹ thuật, công nghệ và phương thức quản lý hiện đại; giải quyết việc làm cho hàng trăm nghìn lao động; chuyển dịch cơ cấu kinh tế đô thị theo hướng công nghiệp, dịch vụ và công nghệ thông tin (IT, ICT).
- Hạn chế và nguyên nhân: Tỷ trọng các dự án gia công, lắp ráp còn cao; hàm lượng công nghệ chuyển giao chưa đạt mục tiêu; vấn đề vi phạm pháp luật lao động, đình công tự phát xảy ra tại một số khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FIEs); công tác kiểm tra, kiểm soát vĩ mô của nhà nước có lúc còn lúng túng, thủ tục hành chính rườm rà.
- Những mâu thuẫn, nghịch lý đặt ra: Mâu thuẫn giữa mục tiêu lợi nhuận tối đa của tư bản với mục tiêu bảo vệ quyền lợi người lao động và bảo đảm an sinh xã hội; mâu thuẫn giữa phát triển công nghiệp nhanh với việc bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái; mâu thuẫn giữa yêu cầu mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và an ninh kinh tế.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp mang tính định hướng phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước ở TP. Hồ Chí Minh
Chương 3 đề xuất định hướng phát triển dựa trên kết quả khảo sát thực tiễn:
3.1. Những quan điểm cơ bản trong quá trình phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước ở Thành phố Hồ Chí Minh:
- Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước phải bảo đảm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước trong hội nhập quốc tế phải giữ vững độc lập tự chủ về kinh tế và toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
- Phải nắm bắt đúng bản chất "bước đi tất yếu" trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kiên quyết tránh hai khuynh hướng sai lầm cực đoan: tả khuynh (nóng vội xóa bỏ tư bản) hoặc hữu khuynh (buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước).
- Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước phải gắn liền với phát triển bền vững, hài hòa giữa kinh tế, tiến bộ xã hội và môi trường.
3.2. Sáu giải pháp mang tính định hướng:
- Xây dựng nhà nước pháp quyền, tăng cường vai trò kiểm kê, kiểm soát, quản lý và điều tiết vĩ mô của nhà nước xã hội chủ nghĩa, củng cố sức mạnh của kinh tế nhà nước. Nhà nước giữ vững các công cụ điều tiết then chốt, hoàn thiện khung khổ pháp lý, bảo đảm nền kinh tế vận hành đúng quỹ đạo định hướng.
- Lựa chọn và vận dụng sáng tạo các hình thức đa dạng của chủ nghĩa tư bản nhà nước nhằm phát triển lực lượng sản xuất, phát huy lợi thế so sánh của Thành phố Hồ Chí Minh. Chuyển dần từ thu hút FDI gia công thâm dụng lao động sang thu hút công nghệ cao, phát triển các trung tâm nghiên cứu và triển khai (TT R&D), công nghiệp phần mềm và dịch vụ cao cấp.
- Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào quá trình phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước. Xử lý đồng bộ mối quan hệ lợi ích ba bên: Nhà nước (thu ngân sách, bảo đảm mục tiêu phát triển chung), Nhà tư bản (lợi nhuận thỏa đáng) và Người lao động (tiền lương công bằng, điều kiện lao động, bảo hiểm và phúc lợi).
- Giáo dục ý thức sinh thái cho nhân dân và các doanh nghiệp kết hợp với biện pháp chế tài để xử lý nghiêm các vi phạm môi trường. Kiên quyết từ chối cấp phép các dự án công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm, kiểm soát chặt chẽ chất thải công nghiệp tại các KCX, KCN.
- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và khoa học, công nghệ – động lực trực tiếp và chủ yếu cho sự phát triển lực lượng sản xuất. Đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, kỹ sư, nhà quản trị đáp ứng yêu cầu vận hành máy móc hiện đại và công nghệ thông tin.
- Phát huy mạnh mẽ tiềm năng của thành phần kinh tế tư nhân. Khuyến khích tư nhân trong nước liên doanh, liên kết với kinh tế nhà nước và tư bản nước ngoài, tạo lập các tập đoàn kinh tế hỗn hợp có sức cạnh tranh.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án chỉ rõ những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
Về lý luận:
- Luận chứng làm sáng rõ lý luận chủ nghĩa tư bản nhà nước của V.I. Lênin là sự tiếp nối logic và hiện thực hóa các dự báo khoa học của C. Mác và Ph. Ăngghen về con đường quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội.
- Luận giải sâu sắc bản chất học thuyết chủ nghĩa tư bản nhà nước là một "khâu trung gian" tất yếu, một hình thái kinh tế quá độ khách quan dưới góc nhìn duy vật biện chứng, đặc biệt là biện chứng giữa sức mạnh kinh tế - kỹ thuật của tư bản với sức mạnh chính trị của nhà nước chuyên chính vô sản.
Về thực tiễn:
- Khái quát hóa và hệ thống hóa quá trình vận dụng sáng tạo học thuyết chủ nghĩa tư bản nhà nước với các hình thức tổ chức kinh tế đa dạng (khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, BOT/BTO/BT, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước) tại một địa bàn đô thị điển hình là Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nhận diện các mâu thuẫn, nghịch lý nảy sinh trong thực tế triển khai và đề xuất hệ thống 4 quan điểm cùng 6 nhóm giải pháp định hướng, làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách kinh tế và quản lý xã hội tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án tự xác định các giải pháp được đề xuất chủ yếu dừng lại ở cấp độ "mang tính định hướng" triết học - kinh tế vĩ mô, chưa đi sâu xây dựng các quy trình kỹ thuật quản trị kinh tế vi mô hoặc các mô hình kinh tế lượng cụ thể. Phạm vi khảo sát thực tiễn tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh, do đó một số bài học mang tính đặc thù của đô thị này cần có sự điều chỉnh khi đối chiếu với các vùng nông thôn hoặc miền núi.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, văn bản gợi mở việc sử dụng kết quả nghiên cứu làm tiền đề cho các công trình đi sâu vào từng cơ chế chính sách cụ thể:
- Hoàn thiện thể chế quản lý các hình thức đối tác công - tư (PPP/BOT/BT) trong lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị.
- Nghiên cứu cơ chế kiểm soát chuyển giá, trốn thuế và xử lý tranh chấp lao động tập thể trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Tiếp tục theo dõi sự biến đổi cơ cấu giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức trong các doanh nghiệp kinh tế hỗn hợp tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập sâu rộng hơn.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng học thuật và quản lý thực tiễn:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên: Tài liệu tham khảo hữu ích cho việc giảng dạy, học tập các chuyên ngành Triết học (CNDVBC & CNDVLS), Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt ở các nội dung liên quan đến Chính sách Kinh tế mới (NEP) và thời kỳ quá độ.
- Cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan của Đảng và Nhà nước (Ban Kinh tế Trung ương, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Cơ quan quản lý chuyên ngành: Cung cấp góc nhìn quản lý toàn diện cho Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp (HEPZA), Ban Quản lý Khu công nghệ cao (SHTP) trong việc giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích, giám sát môi trường và ổn định quan hệ lao động.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu cũ và chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu mới của V.I. Lênin dựa trên tiêu chí nào?
Luận án căn cứ vào bản chất giai cấp của nhà nước và mục đích kinh tế để phân biệt. Chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu cũ nằm trong lòng chế độ tư bản chủ nghĩa, nơi nhà nước tư sản kết hợp với các tổ chức tư bản lũng đoạn nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp bóc lột và đàn áp người lao động. Ngược lại, chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu mới vận hành dưới sự lãnh đạo của nhà nước chuyên chính vô sản; nhà nước của nhân dân lao động nắm giữ các vị trí chỉ huy kinh tế, sử dụng sức mạnh vốn, kỹ thuật của tư bản làm nấc thang trung gian để phát triển lực lượng sản xuất, chuẩn bị cơ sở vật chất tiến lên chủ nghĩa xã hội.
2. Tại sao luận án khẳng định việc áp dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước là một bước đi tất yếu trong thời kỳ quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa?
Dựa trên quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, một quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ phân tán không thể tiến thẳng lên chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa một cách duy ý chí. Chủ nghĩa tư bản nhà nước đóng vai trò là "chiếc cầu nhỏ", "khâu trung gian" tổ chức lại nền sản xuất, khắc phục tình trạng phân tán của kinh tế tiểu nông, chuẩn bị tiền đề kỹ thuật, vật chất và văn hóa quản lý cần thiết mà lịch sử chưa kịp tích lũy.
3. Những hình thức kinh tế tư bản nhà nước cụ thể nào được khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh?
Luận án phân tích 4 hình thức tổ chức kinh tế:
- Các khu chế xuất, khu công nghiệp và khu công nghệ cao (tiêu biểu như KCX Tân Thuận - TTZ, Khu công nghệ cao - SHTP, Vườn ươm phần mềm Quang Trung - SBI).
- Các hợp đồng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật: BOT, BTO, BT, BOO.
- Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (hình thành sở hữu hỗn hợp giữa nhà nước, tư bản tư nhân và người lao động).
- Hợp tác xã kiểu mới và mô hình liên kết kinh tế trang trại trong nông nghiệp ngoại thành.
4. Luận án chỉ ra những mâu thuẫn, nghịch lý nào nảy sinh trong quá trình vận dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh?
Các mâu thuẫn nổi bật gồm:
- Mâu thuẫn giữa xu hướng chạy theo lợi nhuận tối đa của giới tư bản với yêu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp, nâng cao đời sống của người lao động.
- Mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế, mở rộng khu công nghiệp với nhiệm vụ bảo vệ môi sinh, kiểm soát ô nhiễm chất thải.
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu mở rộng cửa hội nhập quốc tế, thu hút vốn ngoại với đòi hỏi giữ vững độc lập tự chủ kinh tế và định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp định hướng lớn nào?
Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp:
- Xây dựng nhà nước pháp quyền, tăng cường kiểm kê, kiểm soát và điều tiết vĩ mô, nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.
- Vận dụng linh hoạt các hình thức tư bản nhà nước để thu hút công nghệ cao và phát huy lợi thế đô thị.
- Giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, Doanh nghiệp và Người lao động.
- Giáo dục ý thức sinh thái kết hợp chế tài nghiêm minh xử lý vi phạm môi trường.
- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn liền với khoa học - công nghệ.
- Phát huy tiềm năng kinh tế tư nhân trong nước qua liên doanh, liên kết.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Phượng là một công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ triết học - kinh tế về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở kế thừa phép biện chứng duy vật lịch sử của C. Mác, Ph. Ăngghen và học thuyết NEP của V.I. Lênin, luận án đã làm sáng tỏ tính tất yếu khách quan của việc sử dụng các hình thức kinh tế quá độ trung gian đối với các nước có điểm xuất phát thấp. Việc khảo sát toàn diện thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh qua các mô hình khu chế xuất, khu công nghiệp, hợp đồng BOT và cổ phần hóa đã giúp tác giả nhận diện sâu sắc những thành tựu cùng các mâu thuẫn nội tại phát sinh. Các quan điểm nguyên tắc và giải pháp định hướng được luận án đề xuất có giá trị thực tiễn đối với công tác hoạch định chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại địa phương và trong phạm vi cả nước.