Phát Triển Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Tại TP.Hồ Chí Minh

Tài liệu nghiên cứu Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở thành phố hồ chí, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

CNDVBC & CNDVLS

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2012

262
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

1.1. QUAN ĐIỂM CỦA C.ĂNGGHEN VỀ VẤN ĐỀ XÓA BỎ CHẾ ĐỘ TƯ HỮU, THIẾT LẬP CHẾ ĐỘ CÔNG HỮU VÀ VẤN ĐỀ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI BỎ QUA CHẾ ĐỘ TƯ BẢN

1.2. QUAN ĐIỂM CỦA V.LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC KIỂU MỚI- CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ GIÁN TIẾP LÊN CNXH

1.3. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI – VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ KINH TẾ SÀI GÒN VÀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.2. VẬN DỤNG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 1975 - 1986

2.3. CÁC HÌNH THỨC CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC ĐƯỢC VẬN DỤNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

2.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.5. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ THỰC TIỄN VẬN DỤNG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP MANG TÍNH ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC Ở TP. HỒ CHÍ MINH

3.1. NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC Ở TP.HỒ CHÍ MINH

3.2. GIẢI PHÁP MANG TÍNH ĐỊNH HƯỚNG TRONG PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC NHẰM THÚC ĐẨY KINH TẾ - XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN CHUNG

PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước và Quá Độ

Chủ nghĩa tư bản nhà nước là một vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Theo C.Ăngghen, xóa bỏ chế độ tư hữu và thiết lập chế độ công hữu là một quá trình có tính quy luật, dựa trên sự phát triển chín muồi của lực lượng sản xuất. V.Lênin đã phát triển lý luận này, đưa ra con đường quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước, coi đó là "mắt xích trung gian" và "chiếc cầu nhỏ vững chắc". Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo tư tưởng này, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, nhằm xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Việc nghiên cứu và phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước ở TP.HCM là một nhiệm vụ cấp thiết để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

1.1. Quan Điểm Của C.Ăngghen Về Xóa Bỏ Chế Độ Tư Hữu

C.Ăngghen cho rằng việc xóa bỏ chế độ tư hữu và thiết lập chế độ công hữu là một quá trình tất yếu, dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quá trình này không thể diễn ra một cách chủ quan, duy ý chí, mà phải tuân theo quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội. Theo Ăngghen, xã hội mới phải đảm bảo sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho mọi người được hưởng thụ những thành quả của nền văn minh. "Xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu là quá trình có tính qui luật trên cơ sở phát triển chín muồi của lực lượng sản xuất."

1.2. V.Lênin và Con Đường Quá Độ Gián Tiếp Lên CNXH

V.Lênin đã đưa ra con đường quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước. Ông coi đây là một "khâu trung gian" cần thiết để xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội ở các nước có nền kinh tế kém phát triển. Chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu mới, “ khâu trung gian ” tất yếu trong tiến trình quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội. Lênin nhấn mạnh rằng việc sử dụng các hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước phải được kiểm soát chặt chẽ bởi nhà nước xã hội chủ nghĩa để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa.

1.3. Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước

Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo lý luận của V.Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Người chủ trương sử dụng các thành phần kinh tế tư bản tư nhân để phát triển sản xuất, đồng thời tăng cường vai trò quản lý của nhà nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa tư bản nhà nước. Người nhấn mạnh rằng việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước phải phục vụ lợi ích của dân tộc và đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa.

II. Thách Thức và Cơ Hội Phát Triển Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước

Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở TP.HCM đối diện với nhiều thách thức và cơ hội. Một trong những thách thức lớn nhất là làm thế nào để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Đồng thời, cần phải giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích giữa các chủ thể kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, cũng có nhiều cơ hội để phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước, như tận dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu công nghệ tiên tiến và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Thành phố Hồ Chí Minh - thành phố đầy năng động sáng tạo, đã đi đầu “xé rào”, thử nghiệm sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước với nhiều hình thức tổ chức kinh tế đa dạng như những “mắt xích trung gian”, đã thu hút mạnh vốn đầu tư của nước ngoài, môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện và có sức hấp dẫn hơn

2.1. Đảm Bảo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Hội Nhập

Việc đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là một thách thức lớn. Cần phải có các chính sách và giải pháp phù hợp để kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh tế, đảm bảo rằng chúng phục vụ lợi ích của dân tộc và không đi ngược lại các giá trị xã hội chủ nghĩa. Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước phải đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa.

2.2. Giải Quyết Hài Hòa Các Quan Hệ Lợi Ích Kinh Tế

Cần phải giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích giữa các chủ thể kinh tế, bao gồm nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Điều này đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật và chính sách công bằng, minh bạch, đảm bảo quyền lợi của tất cả các bên liên quan. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào quá trình phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước.

2.3. Tận Dụng Cơ Hội Từ Đầu Tư Nước Ngoài và Công Nghệ

Việc tận dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài và tiếp thu công nghệ tiên tiến là một cơ hội lớn để phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước. Cần phải có các chính sách ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để tiếp thu và làm chủ công nghệ mới. Lựa chọn, vận dụng sáng tạo những hình thức đa dạng của chủ nghĩa tư bản nhà nước nhằm phát triển lực lượng sản xuất, phát huy lợi thế so sánh của thành phố Hồ Chí Minh.

III. Cách Vận Dụng Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước Tại TP

TP.HCM đã vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước thông qua nhiều hình thức đa dạng, như khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các công ty cổ phần và các hình thức hợp tác xã kiểu mới. Các hình thức này đã góp phần quan trọng vào việc thu hút vốn đầu tư, phát triển sản xuất và tạo việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, cần phải tiếp tục đổi mới và hoàn thiện các hình thức này để nâng cao hiệu quả và đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự thành công của các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao các công ty cổ phần, hợp tác xã kiểu mới không chỉ ở hiệu quả kinh tế, mà còn ở hiệu quả xã hội.

3.1. Phát Triển Khu Chế Xuất và Khu Công Nghiệp

Khu chế xuất và khu công nghiệp là một trong những hình thức quan trọng của chủ nghĩa tư bản nhà nước ở TP.HCM. Các khu này đã thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài, tạo ra nhiều việc làm và đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước. Hình thức khu chế xuất, khu công nghiệp . Cần phải tiếp tục nâng cấp cơ sở hạ tầng và cải thiện môi trường đầu tư để thu hút thêm nhiều dự án chất lượng cao.

3.2. Cổ Phần Hóa Doanh Nghiệp Nhà Nước

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một hình thức quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này. Tuy nhiên, cần phải thực hiện cổ phần hóa một cách minh bạch, công khai và đảm bảo quyền lợi của người lao động. Hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Cần phải có các chính sách hỗ trợ để các doanh nghiệp sau cổ phần hóa có thể phát triển bền vững.

3.3. Hợp Tác Xã Kiểu Mới Trong Nông Nghiệp

Hợp tác xã kiểu mới là một hình thức quan trọng để phát triển nông nghiệp bền vững. Các hợp tác xã này giúp nông dân liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và nâng cao thu nhập. Hình thức hợp tác xã. Cần phải có các chính sách hỗ trợ để các hợp tác xã kiểu mới có thể phát triển mạnh mẽ và đóng góp vào sự phát triển của nông thôn.

IV. Giải Pháp Phát Triển Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước Bền Vững

Để phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước một cách bền vững ở TP.HCM, cần phải có các giải pháp đồng bộ trên nhiều lĩnh vực. Cần phải xây dựng nhà nước pháp quyền, tăng cường vai trò quản lý của nhà nước, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và khoa học công nghệ, đồng thời phát huy mạnh mẽ tiềm năng của thành phần kinh tế tư nhân. Xây dựng nhà nước pháp quyền, tăng cường vai trò kiểm kê kiểm soát, vai trò quản lý, điều tiết vĩ mô của nhà nước xã hội chủ nghĩa và tăng cường sức mạnh của kinh tế nhà nước .

4.1. Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Vững Mạnh

Nhà nước pháp quyền là nền tảng quan trọng để phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước một cách bền vững. Cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, minh bạch và công bằng, đảm bảo quyền lợi của tất cả các chủ thể kinh tế. Xây dựng nhà nước pháp quyền, tăng cường vai trò kiểm kê kiểm soát, vai trò quản lý, điều tiết vĩ mô của nhà nước xã hội chủ nghĩa và tăng cường sức mạnh của kinh tế nhà nước .

4.2. Phát Triển Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao

Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Cần phải đầu tư vào giáo dục và đào tạo, tạo điều kiện cho người lao động được học tập và nâng cao trình độ chuyên môn. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và khoa học, công nghệ - động lực trực tiếp và chủ yếu cho sự phát triển lực lượng sản xuất .

4.3. Phát Huy Tiềm Năng Kinh Tế Tư Nhân

Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế. Cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, đồng thời tăng cường quản lý và kiểm soát để đảm bảo hoạt động đúng pháp luật và không gây ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội. Phát huy mạnh mẽ tiềm năng của thành phần kinh tế tư nhân.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn và Hiệu Quả Kinh Tế Của CNTB Nhà Nước

Việc ứng dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước ở TP.HCM đã mang lại nhiều hiệu quả kinh tế tích cực. GDP tăng trưởng ổn định, thu nhập bình quân đầu người tăng lên, đời sống của người dân được cải thiện. Tuy nhiên, cũng cần phải chú trọng đến các vấn đề xã hội, như phân phối thu nhập công bằng, bảo vệ môi trường và đảm bảo an sinh xã hội. Những đóng góp tích cực của chủ nghĩa tư bản nhà nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh.

5.1. Tăng Trưởng GDP và Thu Nhập Bình Quân

Việc ứng dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước đã góp phần quan trọng vào việc tăng trưởng GDP và thu nhập bình quân đầu người ở TP.HCM. Các khu chế xuất, khu công nghiệp và các doanh nghiệp cổ phần đã tạo ra nhiều giá trị gia tăng và đóng góp vào ngân sách nhà nước.

5.2. Cải Thiện Đời Sống Người Dân

Việc tăng trưởng kinh tế đã góp phần cải thiện đời sống của người dân ở TP.HCM. Thu nhập tăng lên, điều kiện sống được nâng cao và các dịch vụ công cộng được cải thiện.

5.3. Chú Trọng Các Vấn Đề Xã Hội

Cần phải chú trọng đến các vấn đề xã hội, như phân phối thu nhập công bằng, bảo vệ môi trường và đảm bảo an sinh xã hội. Việc phát triển kinh tế không được đánh đổi bằng sự bất công xã hội và ô nhiễm môi trường.

VI. Kết Luận và Tương Lai Của Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước

Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở TP.HCM là một quá trình phức tạp và đầy thách thức. Tuy nhiên, với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự năng động sáng tạo của người dân và sự hợp tác quốc tế, TP.HCM có thể xây dựng một mô hình chủ nghĩa tư bản nhà nước thành công, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước. Quá trình vận dụng NEP trọng tâm là phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước ở Việt Nam, đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua đã đạt được những kết quả tích cực.

6.1. Tổng Kết Các Bài Học Kinh Nghiệm

Cần phải tổng kết các bài học kinh nghiệm từ quá trình phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước ở TP.HCM, cả thành công và thất bại, để rút ra những kinh nghiệm quý báu cho tương lai.

6.2. Dự Báo Xu Hướng Phát Triển

Cần phải dự báo các xu hướng phát triển của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong bối cảnh mới, để có các chính sách và giải pháp phù hợp.

6.3. Đề Xuất Các Kiến Nghị Chính Sách

Cần phải đề xuất các kiến nghị chính sách để tiếp tục hoàn thiện mô hình chủ nghĩa tư bản nhà nước ở TP.HCM, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

05/06/2025
Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề xóa bỏ chế độ tư hữu của những nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng, thông qua trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và đòi hỏi quan hệ sản xuất thích ứng. Quy luật chung nhất này (quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất) quy định sự vận động phát triển tự nhiên, của lịch sử nhân loại từ thấp đến cao. Nội dung cơ bản, tính khoa học, cách mạng của “Tuyên ngôn” được công bố vào năm 1848 là dựa trên sự nhận thức và phân tích sâu sắc thấu đáo nội dung, yêu cầu của quy luật trên trong xã hội tư bản vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã chỉ ra rằng: sự cách mạng hóa công cụ sản xuất làm giai cấp tư sản hoàn toàn chiến thắng chế độ phong kiến.

Nhưng, chính sự phát triển của lực lượng sản xuất ngày càng khoét sâu mâu thuẫn giữa quá trình sản xuất mang tính xã hội với chế độ sở hữu mang tính tư nhân. Quan hệ sản xuất này trở nên cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất. Mọi sự đối phó, điều chỉnh trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản không thể giải quyết được mâu thuẫn này và tất yếu sẽ dẫn đến sự diệt vong của quan hệ sở hữu tư sản, sự diệt vong của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng như sự diệt vong đã xảy ra với các phương thức sản xuất trước đó. Nếu như xã hội tư sản hiện đại đã từng sinh ra từ trong lòng xã hội phong kiến đã bị diệt vong, sự thay thế của đại công nghiệp cho chế độ ruộng đất, phường hội phong kiến và ngay cả với công trường thủ công là một tất yếu không tránh khỏi, thì sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại trong lòng xã hội tư bản cũng tất yếu đẩy chủ nghĩa tư bản đến chỗ diệt vong, nhường chỗ cho một hình thái mới cao hơn là chủ nghĩa cộng sản.

Đó là lôgic tất yếu của lịch sử. Song song với việc vạch ra tiến trình lịch sử - tự nhiên của xã hội loài người dưới tác động của quy luật khách quan, C.Ăngghen đã xác định rõ lực lượng cơ bản tiến hành cuộc cách mạng xã hội ấy là giai cấp vô sản, đội ngũ những người công nhân đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, là sản phẩm của nền đại công nghiệp, là giai cấp triệt để cách mạng, phong trào đấu tranh của họ mưu cầu lợi ích cho khối đại đa số. Từ những tư tưởng cơ bản trên, “Tuyên ngôn” khẳng định rằng “giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ 11 khí giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy; những công nhân hiện đại, những người vô sản. Giai cấp tư sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó.

Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau. Ngoài việc khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, C.Ăngghen còn chỉ ra phương thức xóa bỏ chế độ tư hữu một cách tích cực qua một số tác phẩm của mình. Các ông cho rằng cần phải phê phán cái cũ, cái phi nhân tính, cái trật tự xã hội hiện hành nhưng không phải bằng ảo tưởng mà dựa trên cơ sở hiện thực. Trong “Lời nói đầu” nổi tiếng của tác phẩm “Phê phán Triết học pháp quyền của Hégel” (1843 - 1844), đánh dấu bước chuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản, C.Mác đã nhận định rằng: phê phán tôn giáo “ở thượng giới”, giỏi lắm chỉ cởi được sự tha hóa trong lĩnh vực tinh thần - tâm linh.

Trái lại, sự tha hóa của quần chúng lao động “ở cõi trần” trong sự “nghèo nàn hiện thực” gắn liền với chế độ tư hữu thì phải “phê phán pháp quyền”, “phê phán chính trị” - một sự phê phán kiểu mới không dừng lại ở “phẫn nộ” mà là “vạch trần”, một sự “phê phán giáp lá cà” mà theo C.Mác điều quan trọng là phải “đánh trúng nó” tức là đánh trúng vào cái trật tự tư sản - trật tự dựa trên sở hữu tư nhân cùng với đối kháng giai cấp cuối cùng trong lịch sử. Trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, C.Mác cũng đã nhấn mạnh: muốn xóa bỏ tư tưởng về chế độ tư hữu thì tư tưởng về chủ nghĩa cộng sản là hoàn toàn đủ rồi. Còn muốn xóa bỏ chế độ tư hữu trong thực tế thì phải có hành động cộng sản chủ nghĩa hiện thực. Lịch sử sẽ đem đến theo mình hành động cộng sản chủ nghĩa ấy.

Đồng thời trong tác phẩm này, C.Mác đã lột tả những cội rễ của lao động bị tha hóa trong tác động qua lại có tính nhân quả với hàng loạt các nhân tố gắn liền với chế độ tư hữu tư sản như : tư bản, tiền công, lợi nhuận, cạnh tranh,. Biểu hiện đầu tiên của lao động bị tha hóa nằm ngay ở quá trình lao động, và đụng chạm đến bản chất của sở hữu và phân phối. Người công nhân sản xuất ra các vật phẩm, nhưng chúng không thuộc về họ, mà của người khác. Toàn bộ sức lực và cuộc sống của họ dành cho lao động, còn thành quả lao động thì biến thành cái xa lạ với họ, tức thành cái bị tha hóa, tách khỏi người sản xuất.

12 Tha hóa trong quá trình lao động đã dẫn đến tha hóa ở bình diện rộng hơn – tha hóa bản thân con người, tha hóa loài, hay đời sống có tính loài của con người. Cuối cùng, sự tha hóa trong lao động, trong đời sống có tính loài được hiểu như tha hóa lẫn nhau (absonderung) giữa người với người, xét theo tổng thể các quan hệ xã hội. Vậy đâu là cơ sở xã hội của tha hóa? C.Mác trở về phân tích nguồn gốc của tư hữu, C.Mác nhận thấy rằng nội dung của khái niệm lao động bị tha hóa được xem xét như kết quả vận động của sở hữu tư nhân. Tuy nhiên, sự phân tích tiếp theo cho thấy mặc dầu sở hữu tư nhân vừa là cơ sở, vừa là nguyên nhân của lao động bị tha hóa, song trong thực tế thì ngược lại; nó hóa ra là kết quả của lao động bị tha hóa.Mác cũng nêu lên tư tưởng xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu, sự phủ định nó nhằm mục tiêu tiến bộ xã hội.

Như vậy để khắc phục tha hóa lao động, theo C.Mác, cần thủ tiêu một cách tích cực cơ sở xã hội làm nảy sinh và gia tăng sự tha hóa đó. Xã hội hiện tại, với những mâu thuẫn nảy sinh trong lòng nó và với những điều kiện hiện thực do nó sinh ra, đã tạo tiền đề cho quá trình này, quá trình giải phóng công nhân dưới hình thức chính trị. Trong vai trò của nhà giải phẫu xã hội, C.Mác nhận thấy cơ sở của những nghịch lý vừa nêu nằm ở chế độ tư hữu. Ông khảo sát quá trình này trong những biểu hiện đơn giản dễ thấy của nó, trong quan hệ giữa người với người – quan hệ sở hữu, phân phối sản phẩm lao động, rút ra từ đây tính tất yếu của xung đột xã hội dưới chủ nghĩa tư bản, cũng như tính tất yếu của đổi mới xã hội một cách tích cực.Mác tiên đoán về sự xóa bỏ chế độ tư hữu bằng chính sự vận động tự thân của nó.Mác chưa gọi học thuyết của mình là chủ nghĩa cộng sản, hay chủ nghĩa xã hội, nhưng ông xem nó là mục tiêu mà con người hướng tới , cùng với quá trình xóa bỏ chế độ tư hữu một cách tích cực.

“Xóa bỏ tích cực” được ngầm hiểu là xóa bỏ về căn bản quan hệ “tha hóa” giữa người với người trong quá trình hoạt động sản xuất, hoạt động sống nói chung, nhưng vẫn lưu giữ các yếu tố phù hợp trong điều kiện lịch sử mới, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển, nghĩa là không xóa bỏ sạch trơn, xóa bỏ theo kiểu thủ tiêu của chủ nghĩa hư vô. Xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu tức là xóa bỏ sự tha hóa con người, là sự chiếm hữu một cách thực sự bản chất con người bởi con người và vì con người. Sự “quay trở lại” bản chất con người chính là giải quyết tình trạng tha 13 hóa, mà trước hết là tha hóa lao động. Con người không chỉ có thể, mà cần phải thực hiện sự xoay chiều ấy như một mệnh lệnh lịch sử, như nhiệm vụ đặt ra cho bản thân trong cuộc hành trình giải phóng.

Sự “quay trở lại” tích cực mà C.Mác nhấn mạnh không phải là quay trở lại một cách máy móc, theo hình ảnh vòng tròn khép kín, mà theo hình ảnh vòng xoắn ốc, hàm chứa yếu tố lọc bỏ, kế thừa, phát triển. Chính cách tiếp cận như thế đã làm sáng tỏ tư tưởng biện chứng về phát triển xã hội ở C. Chủ nghĩa cộng sản, theo C.Mác, với tính cách là việc con người hoàn toàn quay trở lại chính mình với tính cách là con người xã hội, nghĩa là có tính chất người – sự quay trở lại này diễn ra một cách có ý thức và có giữ lại tất cả sự phong phú của sự phát triển trước đó. Chủ nghĩa cộng sản đó có được phải bằng cuộc đấu tranh giai cấp, cuộc đấu tranh cuối cùng sẽ nổ ra thành một cuộc cách mạng mà trong đó giai cấp vô sản sẽ lật đổ giai cấp tư sản bằng bạo lực và thiết lập sự thống trị của mình, để xây dựng một xã hội mới - xã hội cộng sản, đồng thời vạch ra cương lĩnh sách lược cho cách mạng vô sản.

Giai đoạn thứ nhất trong cách mạng vô sản là giai đoạn giành lấy dân chủ [87, 567]. Mục đích trước mắt của các Đảng cộng sản và giai cấp vô sản là lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền [106, 558]. Cuộc cách mạng chính trị giành chính quyền chỉ là tiền đề để giai cấp vô sản thực hiện cuộc cách mạng về kinh tế. Đó là xóa bỏ chế độ tư hữu tư sản, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.

“Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị, và để tăng thật nhanh số lượng lực lượng sản xuất lên [87, 567].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Phát Triển Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Tại TP.Hồ Chí Minh" khám phá quá trình chuyển đổi từ chủ nghĩa tư bản nhà nước sang chủ nghĩa xã hội tại TP.Hồ Chí Minh. Tài liệu nhấn mạnh những thách thức và cơ hội trong việc phát triển kinh tế, xã hội và chính trị trong bối cảnh hiện đại. Độc giả sẽ tìm thấy những phân tích sâu sắc về vai trò của nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế, cũng như các chính sách cần thiết để thúc đẩy sự phát triển bền vững.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Chủ nghĩa mác lênin với vận mệnh và tương lai của chủ nghĩa xã hội hiện thực, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về lý thuyết Mác-Lênin và ảnh hưởng của nó đến tương lai của chủ nghĩa xã hội. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về bối cảnh lý thuyết và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ hiện nay.