Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm và phân loại tín dụng 1. Khái niệm tín dụng Tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc có hoàn trả; Danh từ tín dụng dùng để chỉ một số hành vi kinh tế rất phức tạp như: bán chịu hàng hóa, cho vay, bảo hành, ký thác, phát hành giấy bạc [8]. Trong mỗi một hành vi tín dụng có hai bên cam kết với nhau như sau: + Một bên thì trao ngay một số tài khóa hay tiền tệ.
+ Còn một bên kia cam kết sẽ hoàn trả lại những đối khoản của sổ tài khóa trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định nào đó. Nhà kinh tế Pháp, ông Louis Baudin, đã định nghĩa tín dụng như là "Một sự trao đổi tài hóa hiện đại lấy một tài hóa tương lai”. Ở đây yếu tố thời gian đã xen lẫn vào và cũng vì có sự xen lẫn đó cho nên có thể có sự bất trắc, rủi ro xảy ra và cần có sự tín nhiệm của hai bên đương sự đối với nhau. Hai bên đương sự dựa vào sự tín nhiệm, sử dụng sự tín nhiệm của nhau vì vậy mới có danh từ thuật ngữ tín dụng.
Những hành vi tín dụng có thể do bất cứ ai thực hiện. Chẳng hạn hai người thường có thể cho nhau vay tiền. Tuy nhiên ngày nay khi nói tới tín dụng người ta nói ngay tới các ngân hàng vì các cơ quan này chuyên làm các việc cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, ký thác và phát hành giấy bạc [8]. Nội hàm và bản chất của tín dụng Tín dụng rất phong phú và đa dạng về hình thức.
Bản chất của tín dụng thể hiện ở các phương diện sau: một là người sở hữu một số tiền hoặc hàng hóa chuyển giao cho người khác sử dụng một thời gian nhất định. Lúc này, vốn được chuyển từ người cho vay sang người vay. Hai là, sau khi nhận được vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng để thỏa mãn một hay một số mục đích nhất định. Ba là, đến thời hạn do hai bên thỏa thuận, người vay e 5 hoàn trả lại cho người cho vay một giá trị lớn hơn vốn ban đầu, tiền tăng thêm được gọi là phần lãi [8].
Các Mác đã viết về bản chất của tín dụng như sau "Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sở hữu một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển từ tay hữu sang tay nhà tư bản hoạt động cho nên tiền không phải bỏ ra để thanh toán, cũng không phải tự đem bán đi mà cho vay, tiền chỉ đem nhượng lại với một điều kiện là nó sẽ quay lại về điểm xuất phát sau một kì hạn nhất định”. Đồng thời các mác cũng vạch ra yêu cầu của việc quay trở về điểm xuất phát: "Vẫn giữ được nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn lên trong quá trình vận động”. Đến nay các nhà kinh tế đã có nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng nhưng đều phản ánh một bên là đi vay và một bên là cho vay, nó dựa trên cơ sở của lòng tin. Lòng tin được thể hiện trên khía cạnh: người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và là quan hệ có thời hạn, có hoàn trả.
Đây là bản chất của tín dụng [8]. Các loại hình tín dụng - Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp với nhau và được biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. Người bán chuyển hàng hóa cho người mua, người mua được sử dụng hàng hóa trong một thời gian nhất định. Đến hạn nhất định người mua phải trả tiền cho người bán thông thương bao gồm cả lãi suất.
Trong trường hợp này người mua không được hưởng chiết khấu bán hàng. Cơ sở pháp lý để xác định nợ trong quan hệ tín dụng thương mại là các giấy nợ [8]. - Tín dụng ngân hàng: là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các chủ thể xã hội [8]. - Tín dụng nhà nước: là quan hệ giữa một bên là nhà nước còn bên kia là cư dân và các tổ chức kinh tế xã hội [8].
- Tín dụng không chính thống: là quan hệ tín dụng giữa cá nhân với nhau không đặt dưới quan hệ pháp luật [8]. e 6 - Tín dụng thuê mua: là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp thuê tài sản với tổ chức tín dụng thuê mua như các công ty thuê mua, các công ty tài chính [8]. Hoạt động cho vay sản xuất nông nghiệp của ngân hàng thương mại 1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm hoạt động cho vay trong ngân hàng thương mại Ngân hàng là tổ chức đi vay để cho vay, có thể nói hoạt động cho vay của NHTM là hoạt động cơ bản và tạo nguồn thu lớn nhất đối với NHTM. Hoạt động cho vay của NHTM là việc NHTM dùng số vốn huy động được đầu tư cho các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các sản xuất nông nghiệp và các tổ chức khác trong một khoảng thời gian nhất định để lấy lãi. NHTM chuyển vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn chính là qua hoạt động cho vay. NHTM huy động vốn từ những tổ chức, cá nhân đang có vốn mà không có nhu cầu sử dụng số vốn đó rồi cho những tổ chức, cá nhân đang có nhu cầu sử dụng vốn vay.
Có thể thấy hoạt động cho vay của ngân hàng tận dụng được tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Mỗi ngân hàng khác nhau sẽ có những phương thức cho vay khác nhau và tùy thuộc vào tính chất của các nguồn huy động và họ sẽ tập trung cho vay theo một hình thức nào đó làm thế mạnh của mình [10]. Phân loại hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại a. Phân loại theo mục đích khoản vay Theo mục đích khoản vay thì hoạt động cho vay của NHTM được chia thành 3 loại: Cho vay thương mại: Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với những người bán (người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trước).
Sau đó là bước e 7 chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng (là người mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm phát triển sản xuất kinh doanh [10]. Cho vay tiêu dùng: Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro vỡ nợ tương đối cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như một khách hàng tiềm năng. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển [10].
Tài trợ cho dự án: Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình tín dụng này nói chung là cao song lãi lại lớn. Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư đất [10]. Phân loại theo thời gian Phân loại theo thời gian thì hoạt động cho vay của NHTM được chia thành 3 loại: - Cho vay ngắn hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn từ 1 năm trở xuống.
- Cho vay trung hạn: Là các khoản cho vay từ 1 năm đến 5 năm. - Cho vay dài hạn: Là các khoản cho vay trên 5 năm. Tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng thu hồi vốn của từng dự án mà có thể xác định cho vay ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn [10]. Phân loại theo hình thức cho vay Thấu chi: Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội (Vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian nhất định.
e 8 Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của các NHTM đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để cấp hạn mức thấu chi [10]. Cho vay theo hạn mức: Đây là hình thức cho vay theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức cho vay. Hạn mức cho vay có thể tính cho cả kì và cuối kì. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính [10].
Cho vay luân chuyển: Là hình thức cho vay dựa trên luân chuyển hàng hóa của khách hàng. Khách hàng khi đã mua hàng có thể thiếu vốn , ngân hàng có thể cho vay để khách hàng mua hàng và sẽ thu nợ khi khách hàng bán hàng [10]. Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời gian cho vay đã thỏa thuận. Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ tài sản cố định hoặc hàng lâu bền [10].
Cho vay gián tiếp: Phần lớn cho vay của NHTM là cho vay gián tiếp. Bên cạnh đó ngân hàng cũng phát triển các hình thức cho vay gián tiếp như thông qua các tổ, nhóm, hội trung gian…[10]. Khái niệm về cho vay SXNN của NHTM Cho vay là một phạm trù kinh tế có nhiều quan điểm khác nhau tuỳ theo từng cấp độ nghiên cứu. “Cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu”.
Bản chất của cho vay là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và hai bên cùng có lợi. Như vậy, cho vay đối với sản xuất nông nghiệp là khoản vay mà ngân hàng cho vay là mối quan hệ giữa một bên là ngân hàng, còn một bên là bên vay [14]. Đặc điểm cơ bản trong cho vay sản xuất nông nghiệp Số lượng khách hàng nhiều, giá trị khoản vay nhỏ, giải ngân và thu nợ thường theo mùa kinh doanh và chịu tác động rất lớn với điều kiện tự nhiên.