Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tín dụng ngân hàng - Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay nông nghiệp nông thôn tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Huyện Chợ Gạo Tiền Giang giai đoạn 2015-2019. - Chương 3: Giải pháp phát triển cho vay nông nghiệp nông thôn tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Huyện Chợ Gạo Tiền Giang. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng giao dịch trực tiếp với các doanh nghiệp, tổ chức đoàn thể xã hội và cá nhân, bằng việc huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi hoạt kỳ, tiền gửi định kỳ, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đồng thời sử dụng số tiền huy động được để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng là khách hàng trong nền kinh tế. Luật số 47/2010/QH12 Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này, nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Khoản 4, Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng. Trong đó hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng bao gồm: Huy động vốn dưới mọi hình thức, cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, chiết khấu chứng từ có giá, bao thanh toán, cho thuê tài chính, thấu chi, cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng và cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng khác.
Luật các Tổ chức tín dụng còn khẳng định tính chất kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng thương mại. Luật ngân hàng thương mại của các nước trên thế giới đều khẳng định: Ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường với nhiệm vụ nhận tiền gửi của công chúng dưới hình thức ký thác, và sử dụng nguồn lực đó cho các nghiệp vụ về tín dụng, chiết khấu và các hoạt động dịch vụ khác với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các tổ chức tài chính cũng như của các ngân hàng, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn 6 nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất.
Tín dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng (còn được gọi là tín dụng ngân hàng), quyết định chủ yếu đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Tuy vậy rất khó có thể định nghĩa rõ ràng về tín dụng mà tuỳ theo góc độ nghiên cứu mà cách hiểu cũng khác nhau: - Tín dụng ( credit) được coi là cách thức chuyển dịch quỹ (vốn) từ người cho vay sang người đi vay, tức là từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm - Đối với các quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là giao dịch về tài sản trên cơ sở có sự hoàn trả giữa hai chủ thể. Phổ biến nhất là giao dịch giữa ngân hàng và các tổ chức, tài chính khác, giữa các doanh nghiệp và cá nhân thể hiện dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cung cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một khoảng thời hạn nhất định người đi vay phải thanh toán gốc và lãi. - Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền mà các tổ chức tài chính cung cấp cho khách hàng (cho vay).
Như vậy tín dụng được hiểu đó là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính) trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm trả gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Tại Việt Nam, theo Luật các Tổ chức tín dụng, Điều 49 ghi: “Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước ”. Quan hệ tín dụng phần lớn được xác lập thông qua hợp đồng tín dụng với trọng tâm là xác định khả năng và ý muốn của người nhận tín dụng trong việc thực hiện hợp đồng. Bản chất Như vậy ta có thể thấy, bản chất của tín dụng: - Đó là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với các cá nhân, tổ chức trong quan hệ đi vay và cho vay.
- Hoạt động tín dụng dựa trên nguyên tắc có hoàn trả (gốc và lãi) trong một khoảng thời gian xác định, với những thỏa thuận giữa hai bên (cho vay và đi vay). Vai trò Như chúng ta đã biết, hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu của các ngân hàng thương mại, quyết định sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng và chính nó mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho một ngân hàng thương mại.Trong giai đoạn hiện nay nhiều hoạt động mới trong ngân hàng đã xuất hiện song hoạt động tín dụng vẫn luôn là hoạt động cơ bản và chiếm một tỷ trọng lớn trong toàn bộ các hoạt động của các ngân hàng thương mại (chiếm gần 80% tổng tài sản có) và cùng với nó lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng cũng chiếm tỷ trọng cao. Hoạt động tín dụng được coi là nguồn sống của các ngân hàng thương mại. Hoạt động tín dụng ngân hàng là huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong tất cả các thành phần kinh tế, chủ thể kinh tế để cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vay góp phần mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Với chức năng nhận tiền gửi và cho vay, sự có mặt của ngân hàng thương mại với hoạt động tín dụng được coi như cầu nối những người thừa vốn với những người thiếu vốn. Và cũng thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại mà vốn được quay vòng một cách liên tục, điều này không những làm tăng khả năng tích luỹ của ngân hàng mà còn thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế nhờ vào nguồn thu từ việc cấp tín dụng thông qua công cụ lãi suất (lãi suất huy động và cho vay). Ngân hàng còn cung cấp cho các ngành khác nhau trong nền kinh tế thực hiện đầu tư theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu phục vụ cho cả mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội từ đó cơ cấu lại nền kinh tế hợp lý và thông qua đó khai thác triệt để các nguồn lực. Đối với hoạt động xuất nhập khẩu, giao lưu buôn bán trên toàn thế giới, tín dụng ngân hàng là một phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau thông qua hoạt động đầu tư vốn xuyên quốc gia (thông qua các chi nhánh của các ngân hàng hoặc ngân hàng nhà nước việc các doanh nghiệp thanh toán, mua bán hàng hóa trở nên nhanh chóng và thuận tiện hơn rất nhiều).
Do đó, tín dụng Ngân hàng sẽ góp phần phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài,… (Nguyễn Đăng Dờn, 2014). Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm chất lượng tín dụng Là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng gồm người gửi tiền và người đi vay phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của tổ chức tín dụng cung cấp sản phẩm tín dụng đó. Chất lượng tín dụng là một phạm trù phản ánh mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp cho vay của một NHTM.
Trong thực tế, theo bản chất tín dụng là mối quan hệ giữa người cho vay và người vay, liên quan đến nhiều chủ thể kinh tế và có vai trò cực kỳ quan trọng, Vì thế chất lượng hoạt động (tín dụng) của ngân hàng không những phụ thuộc vào tính cách của người vay mà còn phụ thuộc vào chất lượng hoạt động, khả năng tài chính, phương án, dự án mang lại lợi nhuận kinh tế cá nhân và xã hội như thế nào. Để phản ánh về chất lượng tín dụng, có rất nhiều chỉ tiêu, nhưng nhìn chung các NHTM thường quan tâm đến tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu đối với hoạt động tín dụng. Hai chỉ tiêu này là thước đo quan trọng nhất để đánh giá sự lành mạnh, hiệu quả, an toàn vốn đồng thời tác động có xu hướng không thuận lợi đến tất cả các lĩnh vực hoạt động của NHTM. Tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu càng cao thì chất lượng tín dụng càng kém và ngược lại.
Theo thông lệ quốc tế tỷ lệ nợ quá hạn dưới 5% được xem là tín dụng có chất lượng tốt, ngược lại trên 5% được coi là có vấn đề cần được xem xét. Ở Việt Nam, theo Quy định xếp loại NHTM ban hành theo Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN ngày 12/03/2008 của NHNN Việt Nam thì tỷ lệ nợ xấu nhỏ hơn 3% được xem là an toàn, ngược lại được xem là có vấn đề. Mặt khác, các khoản vay được đánh giá là có chất lượng khi vốn vay được khách hàng sử dụng đúng mục đích, đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có khả năng hoàn trả vốn gốc và lãi vay đúng hạn cho ngân hàng theo đúng cam kết, đồng thời bù đắp được chi phí và có lợi nhuận.Điều này có nghĩa là ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế lại tạo được hiệu quả xã hội. Chất lượng tín dụng tỷ lệ thuận với hiệu quả và độ tin cậy trong hoạt động tín dụng.
Vì vậy chất lượng tín dụng đòi hỏi ngân hàng cần tiến hành kiểm tra, kiểm soát, đánh giá khả năng trả nợ, mức độ 9 tín nhiệm của khách hàng, kiểm soát rủi ro nhằm đảm bảo hiệu quả kinh doanh, hạn chế nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh.