CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro thường hàm chứa trong nó những khả năng gây tổn thất và có thể xảy ra đối với các tất cả các lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Rủi ro có thể xảy ra khi ngân hàng (NH) hoạt động kém hiệu quả do hệ thống thông tin không đầy đủ, hoạt động kinh doanh có vấn đề hoặc hệ thống kiểm soát nội bộ chưa hiệu quả, điều này gây tổn thất lớn đến lợi nhuận cũng như sự an toàn của ngân hàng. Vì vậy, việc dự đoán, phòng ngừa rủi ro và hạn chế rủi ro là một trong những nội dung mà ngân hàng cần đặc biệt quan tâm. Bielecki và Marek Rutkowski (2004) cho rằng “Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng không thực hiện đầy đủ những cam kết/nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng”.
Thông tư 41/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 30/12/2019 nêu rõ: “Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trừ các trường hợp quy định tại điểm b khoản này”. Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại (NHTM), hoạt động tín dụng đem lại nguồn thu chủ yếu, chiếm đến 70% - 80% lợi nhuận của NHTM. Tuy nhiên đây cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự luân chuyển tiền tệ và khả năng thanh khoản của NHTM. Rủi ro tín dụng cũng là loại rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất, đòi hỏi ngân hàng phải có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để ngăn ngừa, hạn chế và giảm thiểu những thiệt hại có thể xảy ra.
6 Như vậy, có thể nói rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất khi khách hàng không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng, khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Do đó, việc nghiên cứu về hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của NHTM có ý nghĩa quan trọng nhằm giảm tối đa tổn thất và nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của tổ chức này.2 Phân loại rủi ro tín dụng Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành các loại khác nhau.1 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng có thể phân biệt RRTD thành hai loại rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục: Rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch Rủi ro Rủi ro Rủiro nghiệp vụ lựa chọn bảo đảm Rủi ro danh mục Rủi ro Rủi ro nội tại tập trung Sơ đồ 1. 1: Phân loại rủi ro tín dụng 7 - Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, 8 đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
Cụ thể: + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến khâu thẩm định và phân tích khách hàng trước khi ra quyết định cấp tín dụng. Khi tiếp nhận một đề nghi ›vay từ phía khách hàng, do hiện tượng bất cân xứng thông tin (Asymmetric information) nên ngân hàng luôn phải đứng trước một lựa chọn bất lợi (Adverse selection) là khả năng chấp thuận một khách hàng xấu, một khoản vay có độ an toàn thấp đồng thời với việc loại bỏ một khách hàng tốt, một khoản vay có độ an toàn cao. Sự lựa chọn không đúng là một trong các nguyên nhân đầu tiên dẫn đến việc ngân hàng đương đầu với khả năng tổn thất. + Rủi ro bảo đảm: xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo cho sự an toàn của một khoản tín dụng được ngân hàng chấp thuận.
Đó là các tiêu chuẩn về tài sản bảo đảm, về vốn đối ứng mà khách hàng vay phải có, về những thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng vay,…Những điều kiện này tạo tiền đề cho một mối quan hệ chặt chẽ, đầy đủ cơ sở pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi cho ngân hàng trong trường hợp xảy ra tranh chấp sau này. Mặt khác chúng cũng tạo ra những rào cản kỹ thuật buộc khách hàng vay phải tuân thủ những thỏa thuận với ngân hàng trong quan hệ tín dụng, ngăn chặn những hành vi bất lợi cho ngân hàng xuất phát từ rủi ro đạo đức của người vay. + Rủi ro nghiệp vụ: rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. Những sai sót trong quá trình tác nghiệp có thể làm gia tăng khả năng xảy ra rủi ro và mức độ tổn thất trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng.
- Rủi ro danh mục là loại hình rủi ro tín dụng phát sinh trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro danh mục là loại rủi ro vừa mang tính chủ 9 quan, lại vừa tác động của các nhân tố khách quan. Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Cụ thể: + Rủi ro nội tại: xuất phát từ những yếu tố, các đặc điểm riêng biệt của mỗi chủ thể vay vốn, mỗi ngành kinh tế, mỗi hình thức, phương thức cấp tín dụng.
Rủi ro nội tại có tính tất yếu, không thể triệt tiêu vì nó thuộc về bản tính vốn có của đối tượng mà ngân hàng đầu tư, các biện pháp của ngân hàng chỉ có thể giúp kiểm soát từ đó hạn chế nó mà thôi. + Rủi ro tập trung: loại rủi ro xuất phát từ sự thiếu đa dạng trong danh mục tín dụng của NH, phát sinh trong trường hợp NH tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng (KH), cho vay quá nhiều doanh nghiệp (DN) hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Có thể nhận biết rủi ro tập trung của một NH thông qua phân tích cơ cấu danh mục tín dụng của họ. Việc tuân thủ các giới hạn tối đa trong cấp tín dụng đối với từng KH, nhóm KH cho thấy mức độ tập trung hay phân tán đa dạng hóa của danh mục tín dụng.
Rủi ro danh mục có liên quan chặt chẽ với rủi ro giao dịch. Nếu rủi ro giao dịch lớn sẽ dẫn đến rủi ro danh mục gia tăng bởi vì sự an toàn của cả danh mục cho vay bi ̣chi phối bởi sự an toàn của từng thành phần, đơn vi ̣trong danh mục. Tuy nhiên điều ngược lại chưa chắc đúng, tức là khi rủi ro giao dịch thấp chưa chắc là rủi ro danh mục thấp do nó còn phụ thuộc vào mức độ tập trung các khoản cho vay lớn, sự phân tán, đa dạng hóa danh mục.2 Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan Căn cứ vào tính khách quan, chủ quan có thể phân RRTD thành hai loại rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan: - Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác 1 làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. - Rủi ro chủ quan: do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác.3 Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng - Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Xảy ra khi KH không thể trả nợ đúng thời hạn đã thỏa thuận với NH hay nói cách khác là KH đã trì hoãn trả nợ.
Điều này ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của NH, gây cản trở khó khăn cho việc chi trả lãi tiền gửi, tăng chi phí cho NH (chi phí cơ hội, chi phí xử lý nợ quá hạn và nợ khó đòi, chi phí giám sát và chi phí pháp lý). - Rủi ro do không có khả năng trả nợ: Là rủi ro xảy ra khi NH không thể đòi lại được tiền của KH do KH đi vay đã mất khả năng chi trả. Trong trường hợp này thì NH chỉ còn trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản của KH để đỡ một phần nợ gốc. - Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng của ngân hàng Có rất nhiều nhân tố dẫn đến RRTD nhìn chung có thể chia thành nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan 1.1 Các nhân tố khách quan Các nhân tố khách quan bao gồm các nhân tố môi trường chính trị, pháp luật; môi trường kinh tế; môi trường văn hóa-xã hội; môi trường công nghệ; môi trường tự nhiên; khách hàng 1 - Môi trường chính trị, pháp luật: Sự thay đổi thể chế, sự bất ổn chính trị, … có thể đe dọa đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ ngành nào.
Ngoài luật pháp trong nước, các doanh nghiệp còn phải tuân theo luật pháp của khu vực. Các công ty hoạt động tại nước ngoài cần phải am hiểu pháp luật của quốc gia sở tại, điều này là rất khó khăn. - Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế từng thời kỳ không chỉ có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp mà còn có nghĩa với cả các ngân hàng cho vay. Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng gồm: tính chu kỳ của nền kinh tế; các biến số kinh tế vĩ mô như lãi suất, lạm phát, tỷ giá, …; các chính sách của Chính phủ như tiền lương, các hướng ưu tiên đầu tư, miễn giảm thuế, … - Môi trường văn hóa- xã hội: Những giá trị văn hóa - xã hội đặc trưng của mỗi quốc gia, mỗi vùng miền ảnh hưởng tới đặc điểm của người tiêu dùng và quyết định đến đầu ra của các doanh nghiệp.