CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Luật doanh nghiệp 2014: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Để đánh giá mức độ phát triển và tăng cường hỗ trợ cho các DN, người ta thường chia các loại hình DN dựa theo tiêu thức về quy mô.
Theo tiêu thức này, DN được chia thành DN lớn và DNNVV. Quy mô của DN được đánh giá dựa trên một hoặc một nhóm tiêu chí như vốn, doanh thu, lao động, … Mỗi quốc gia, mỗi khu vực có thể lựa chọn một chỉ tiêu hoặc một nhóm các chỉ tiêu khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện, trình độ phát triển và quan điểm riêng của mỗi nước. Việc đưa ra được tiêu chí xác định phù hợp là rất quan trọng nhằm xây dựng chính sách hỗ trợ và định hướng phát triển đối với các DN đúng đắn và hợp lí hơn. Tại Việt Nam, theo điều 5 thông tư số 16/2013/TT-BTC ban hành ngày 08/02/2013 thì doanh nghiệp nhỏ và vừa được nhận dạng như sau: Doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, bao gồm cả hợp tác xã (sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian và có doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng), không bao gồm doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, xổ số, trò chơi có thưởng, sản xuất hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.
Còn theo Điều 6 nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 thì Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, cụ thể được thể hiện ở bảng 1.1 như sau: 8 Bảng 1. Phân loại DNNVV theo lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản Thương mại, dịch vụ và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng Chỉ tiêu/ Doanh Doanh Doanh Doanh Doanh Doanh Lĩnh vực nghiệp nghiệp nghiệp nghiệp nghiệp nghiệp siêu nhỏ nhỏ vừa siêu nhỏ nhỏ vừa Số lao động tham gia bảo không quá không quá không quá không quá không quá không quá hiểm xã 10 người 100 người 200 người 10 người 50 người 100 người hội bình quân năm Tổng không quá không quá không quá không quá không quá không quá doanh thu 200 tỷ 100 tỷ 300 tỷ 3 tỷ đồng 50 tỷ đồng 10 tỷ đồng của năm đồng đồng đồng không quá không quá Tổng không quá không quá không quá không quá 100 tỷ 100 tỷ nguồn vốn 3 tỷ đồng 20 tỷ đồng 3 tỷ đồng 50 tỷ đồng đồng đồng (Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP của Chính phủ) Việc đưa ra được tiêu chí đánh giá DNNVV phải dựa trên tình hình thực tế của đất nước nhằm đánh giá đúng đối tượng, giúp việc hoạch định chính sách hoàn thiện hơn, kịp thời hỗ trợ hoạt động cho các DN. Đồng thời việc phân loại hợp lí cũng giúp bản thân DN dễ dàng định hướng phát triển cho mình. Cùng với quá trình đổi mới của đất nước, mỗi giai đoạn khác nhau có thể căn cứ vào điều kiện cụ thể để đưa ra tiêu thức xác định DNNVV khác nhau.
Đặc điểm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa có những đặc điểm dưới đây: Thứ nhất, DNNVV năng động, linh hoạt, dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trường. Đây là một trong những đặc điểm ưu việt của DNNVV. DNNVV chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho xã hội. 9 DNNVV hoạt động kinh doanh với số vốn ít, vòng quay vốn thường là ngắn, các phương án sản xuất kinh doanh không lâu dài như các DN lớn.
Với lợi thế đó, DNNVV dễ dàng thay đổi quy mô, thay đổi sản phẩm khi có sự thay đổi của thị trường. Thứ hai, các DNNVV hiện nay đã chú trọng đổi mới công nghệ nhưng còn tương đối lạc hậu, không đồng bộ và trình độ quản lý còn yếu kém. Các DNNVV đã nhận biết được tầm quan trọng của đổi mới công nghệ trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, tuy nhiên, do chi phí đổi mới công nghệ là rất lớn nên việc đổi mới công nghệ trong các DNNVV còn tiến hành chậm và chưa đạt hiệu quả cao. Thứ ba, DNNVV góp phần giải quyết hiệu quả vấn đề lao động và việc làm, nhưng phần lớn đội ngũ lao động còn yếu kém.
DNNVV chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng số doanh nghiệp, vì vậy DNNVV góp phần giải quyết hiệu quả vấn đề lao động và việc làm. Tuy nhiên, do ngành nghề kinh doanh và khả năng thu hút lao động, mức đãi ngộ lao động của các DNNVV còn yếu nên chất lượng lao động không đồng đều và còn nhiều yếu kém. Thứ tư, DNNVV có quy mô vốn nhỏ nên năng lực cạnh tranh còn thấp. Quy mô vốn là tiêu chí chủ yếu để phân biệt DNNVV với DN lớn.
Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến các đặc điểm chính của DNNVV. Có thể nói, vì thiếu vốn nên DN gặp khó khăn trong đổi mới công nghệ, đào tạo đội ngũ quản lý và nâng cao năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế. Cụ thể như sau: Thứ nhất, DNNVV đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm, góp phần ổn định xã hội.
Các DNNVV tham gia kinh doanh ở tất cả các ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế với đa dạng các sản phẩm nên có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều đối tượng lao động khác nhau. Thứ hai, cung cấp một khối lượng lớn sản phẩm và dịch vụ, đa dạng và phong phú chủng loại, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Do đặc điểm của DNNVV 10 nên các DNNVV có khả năng đáp ứng những nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú và độc đáo của người tiêu dùng. Các DNNVV rất dễ thay đổi mặt hàng kinh doanh, nếu mặt hàng kinh doanh cũ không còn sức cạnh tranh, những sản phẩm nhỏ nhặt mà DN lớn không đáp ứng được, các DNNVV sẽ đáp ứng.
Thứ ba, DNNVV góp phần quan trọng trong việc tạo lập sự phát triển cân bằng và chuyển dịch kinh tế theo vùng lãnh thổ. Các DN có quy mô lớn thường tập trung ở các thành phố lớn, các Trung tâm công nghiệp không thể đáp ứng được tất cả mọi nhu cầu của nền kinh tế. Với chiều hướng đó sẽ gây tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng trong một quốc gia. Chính sự phát triển của DNNVV góp phần quan trọng trong việc tạo lập sự phát triển cân đối giữa các vùng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Thứ tư, DNNVV góp phần quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư trong dân cư và sử dụng tối ưu các nguồn lực tại địa phương. Ưu thế của DNNVV là thành lập với số vốn ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh, nguồn vốn huy động chủ yếu dựa vào bạn bè, người thân. nên các DNNVV đã thu hút được vốn của các tầng lớp dân cư. Với quy mô nhỏ và vừa, lại được phân tán hầu hết ở các địa phương, vùng lãnh thỗ nên các DNNVV có khả năng tận dụng các tiềm năng về lao động, nguyên vật liệu có sẵn ở địa phương.
Thứ năm, DNNVV góp phần tăng nguồn hàng xuất khẩu và nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Các DNNVV xuất khẩu các sản phẩm truyền thống ra nước ngoài góp phần tăng nguồn thu cho NSNN. Thứ sáu, DNNVV hỗ trợ đắc lực cho doanh nghiệp có quy mô lớn, là cơ sở để hình thành nên những doanh nghiệp lớn, những tập đoàn kinh tế hùng mạnh. Các DNNVV với đặc trưng nhỏ lẻ có thể tập trung vào những thị trường ngách hỗ trợ các Doanh nghiệp lớn trong việc tiếp cận và bao quát thị trường.
Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, là hoạt động thể hiện chức năng trung gian tín dụng của ngân hàng và là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn nhất cho mỗi ngân hàng, Cho vay ngân hàng có thể hiểu là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Hoạt động cho vay là cơ bản và quan trọng nhất trong các hoạt động cấp tín dụng của NHTM. Hoạt động cho vay ra đời từ khá sớm, thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của NHTM và quen thuộc nhất với những người sử dụng vốn vay từ ngân hàng.
Hoạt động cho vay là đem lại nguồn thu tương đối lớn cho các NHTM, nhưng đồng thời cũng là hoạt động đem lại nhiều rủi ro. NHTM khi cho khách hàng vay vốn sẽ thu được một khoản lợi nhuận từ lãi tiền vay mà khách hàng trả. Tuy nhiên, ngân hàng cũng phải đối mặt với những rủi ro về lãi suất, về thanh khoản, về kỳ hạn… mà nếu không có những biện pháp quản lý phù hợp, ngân hàng rất có thể sẽ bị phá sản.Rose (2003), Cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của Ngân hàng, để tài trợ cho chi tiêu của các doanh nghiệp, các cá nhân và các cơ quan chính phủ. Theo thông tư 39/2016/TT-NHNN, Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Với cách hiểu như trên trong phạm vi của luận văn thì cho vay DNNVV có thể được hiểu như sau: Cho vay đối với DNNVV của NHTM là hình thức cấp tín dụng, theo đó, NHTM giao hoặc cam kết giao cho DNNVV một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.