CHƯƠNG 1 Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng của công ty cho thuê tài chính, giải quyết nguồn vốn trung và dài hạn cho bên thuê là các tổ chức và cá nhân thông qua việc tài trợ tài sản thuê được cung ứng từ nhà cung cấp là các công ty, các hãng sản xuất hoặc kinh doanh. So với hoạt động cho vay trung dài hạn thì hoạt động cho thuê tài chính có nhiều ưu thế hơn, chẳng hạn như người đi thuê được tài trợ gần 100% nhu cầu vốn, không thế chấp tài sản, chủ động trong việc lựa chọn thiết bị công nghệ và mức giá thuê phù hợp,… Gắn liền với hoạt động cho thuê tài chính là sự ràng buộc về trách nhiệm và quyền lợi giữa bên cho thuê, bên thuê và nhà cung cấp được thể hiện chi tiết trong hợp đồng cho thuê tài chính. Hoạt động cho thuê tài chính có 3 hình thức tài trợ chính: cho thuê tài chính thông thường; mua và cho thuê lại; cho thuê giáp lưng. Các hình thức tài trợ này đều quy định rõ về quy trình nghiệp vụ thuê, xác định thời hạn thuê, các phương thức tính tiền thuê và một số điều kiện về bảo hành, bảo dưỡng thiết bị thuê… Hiệu quả của hoạt động cho thuê tài chính trong thực tiễn đã chứng tỏ được vai trò đóng góp to lớn của nó trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
15 CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG 2. Thực trạng hoạt động cho thuê tài chính trên địa bàn tỉnh Bình Dương 2. Các ngân hàng thương mại hoạt động trên địa bàn tỉnh Bình Dương - một địa bàn kinh tế năng động, là một điểm sáng về thu hút đầu tư nước ngoài. Ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế nói chung, ở Bình Dương cũng vậy.
Hệ thống ngân hàng ở Bình Dương tích cực trong công cuộc đổi mới, không ngừng lớn mạnh về nhiều mặt: quy mô hoạt động, năng lực công nghệ, năng lực tài chính cơ bản đảm bảo đầy đủ, kịp thời về nhu cầu vốn, mở rộng các dịch vụ và tiện ích ngân hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của nền kinh tế địa phương. Trên địa bàn tỉnh có số lượng các tổ chức tín dụng nhiều và đa dạng về loại hình gồm: 10 Chi nhánh Ngân hàng thương mại Nhà nước, 16 Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần, 04 CN Ngân hàng liên doanh, 53 Phòng giao dịch với 234 máy ATM. Về cơ sở vật chất kỹ thuật, các ngân hàng đã tích cực đầu tư đổi mới công nghệ, đến nay tất cả các TCTD đều đã trang bị tương đối đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật đảm bảo phục vụ kịp thời cho mọi hoạt động tại đơn vị, như máy chủ, máy PC, các thiết bị công nghệ hiện đại, đường mạng tốc độ cao kết nối mạng nội bộ và toàn hệ thống của từng đơn vị. Trang bị các phần mềm ứng dụng tiên tiến, tính bảo mật cao, tiện lợi trong giao dịch và quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả trên tất cả các mặt hoạt động.
Các Chi nhánh: Sacombank, Ngân hàng đầu tư và phát triễn, Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Cổ phần Đông Á,. đã thực hiện việc nối mạng trực tuyến với Hội sở chính, cung cấp nhiều dịch vụ, tiện ích ngân hàng hiện đại. Hệ thống QTDND cơ sở cũng đã trang bị đầy đủ về hệ thống máy vi tính và các thiết bị tin học cần thiết đảm bảo phục vụ đầy đủ và kịp thời các hoạt động của đơn vị. 16 Về nhân lực: Đối với các NHTM, tại Chi nhánh cấp I đều có tổ chức từ tổ vi tính trực thuộc phòng kế toán (đối với đơn vị có chi nhánh trực thuộc ít) đến tổ chức thành phòng máy chuyên trách về việc ứng dụng, đổi mới công nghệ cho đơn vị và các Chi nhánh trực thuộc, đảm bảo cho đơn vị ứng dụng kịp thời những thay đổi về công nghệ thông tin.
Riêng về việc ứng dụng, đổi mới công nghệ trong các lĩnh vực khác như thẻ thanh toán, thanh toán xuất nhập khẩu, thẩm định,. thông thường do Hội sở chính đảm nhận triển khai thực hiện đến các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ tương ứng. Hầu hết các TCTD đều có cán bộ phụ trách tin học đều có trình độ từ cao đẳng CNTT trở lên; tất cả cán bộ nhân viên của các TCTD đều sử dụng thành thạo máy tính, mạng máy tính và các phần mềm ứng dụng tin học. Đánh giá một số mặt hoạt động Ngân hàng 2.
Tình hình quản lý tiền mặt và an toàn kho quỹ: NHNN Tỉnh Bình Dương đã làm tốt công tác điều hoà tiền mặt, không để xảy ra tình trạng tồn đọng hay khan hiếm tiền mặt trên địa bàn.Công tác an toàn kho quỷ được đảm bảo, việc thu chi tiền mặt luôn đúng quy định, kịp thời nhanh chóng chính xác cao, không có xảy ra trường hợp mất mát thiếu hụt nào.1: Tình hình thu chi tiền mặt qua quỹ ngân hàng từ năm 2005 đến năm 2008 Đơn vị tính: tỷ đồng Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 Tổng thu 43. Tình hình huy động vốn: Để đạt được sự tăng trưởng cao trong huy động vốn một phần là do lãi suất huy động tăng cao, hình thức huy động đa dạng, tiện lợi cho khách hàng về thời gian gửi, lãi suất gửi và phương thức thanh toán. Va đó cũng là nguyên nhân chủ quan về phía ngân hàng đã đi ngược lại quy luật chung của lãi suất (huy động ngắn hạn lãi suất cao hơn huy động dài hạn). 17 Ngoài ra sự tăng trưởng trong huy động còn do nguyên nhân khách quan là sự bất ổn của thị trường hàng hoá như xăng dầu, vật liệu xây dựng, nhà đất, chứng khoán…nên khách hàng lựa chọn phương án gửi tiền vừa để đảm bảo an toàn vốn vừa có lợi và lựa chọn thời gian, phương án kinh doanh thích hợp nhất.2: Tình hình huy động vốn từ năm 2005 đến năm 2008 Đơn vị tính: triệu đồng CHỈ TIÊU 2005 2006 2007 2008 Tổng vốn huy động 7.
Tiền gửi TK 4. Huy động GTCG 153. Tình hình sử dụng vốn: Trong năm 2008 ngay từ đầu năm các TCTD đã tập trung thu hồi nợ cũ, nợ quá hạn, ngăn chặn nợ quá hạn phát sinh. Tuy nhiên do tình hình kinh tế bất ổn định, các chính sách vĩ mô luôn thay đổi, giá cả hàng hoá lên xuống bất thường làm cho một số khách hàng bị thua lỗ, hàng hoá chậm thanh toán… do đó nợ quá hạn tăng cao so với năm 2007 với tỷ lệ 1.
Tuy nhiên, tỷ lệ này chỉ tập trung ở một vài TCTD, còn hầu hết cho thấy chất lượng tín dụng trên địa bàn Bình Dương được đánh giá cao, cho vay đúng quy trình nghiệp vụ, đúng chế độ thể lệ của ngành. So với những năm trước tốc độ tăng doanh số và dư nợ thấp nhất từ trước đến nay, đó là tình hình chung của cả nước để thực hiện mục tiêu chính là ổn định kinh tế, kiềm chế lạm phát. 18 Hoạt động của các Quỹ tín dụng vẫn phát triển ổn định, chất lượng tín dụng luôn được quan tâm, nợ quá hạn giảm. Ước trong năm 2008 dư nợ tăng 18%, huy động tăng 15% so với năm 2007 và dư nợ quá hạn chỉ chiếm 0,5%/tổng dư nợ.
Tuy tình hình kinh tế khó khăn trong năm ảnh hưởng nhiều đến khả năng huy động và tín dụng của các quỹ tín dụng, nhưng kết quả hoạt động cho thấy lợi nhuận trước thuế của năm nay sẽ bằng với năm 2007 hoặc có giảm thì tỷ lệ rất ít. Qua đó cho thấy hoạt động ở các quỹ tín dụng ngày càng đạt hiệu quả cao.3: Dư nợ cho vay từ năm 2005 đến năm 2008 Đơn vị tính: triệu đồng CHỈ TIÊU 2005 2006 2007 2008 TỔNG DƯ NỢ CV(TDN) 11. Trung, dài hạn 4. Nợ quá hạn (NQH) 280.426 Tỷ lệ (NQH)/TDN 2.
Tình hình thanh toán: Với mạng lưới các TCTD trải điều khắp các huyện, thị, các khu đông dân cư, vùng sâu, vùng xa trong tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân, và các thành phần kinh tế khác quan hệ, giao dịch, tiếp cận các dịch vụ tiện ích của Ngân hàng.Tất cả các TCTD đều áp dụng các tiến bộ về công nghệ thông tin vào mọi hoạt động của mình. Thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những nghiệp vụ quan trọng luôn được NHNN và các TCTD quan tâm, công nghệ thông tin đã giúp cho hệ thống các TCTD nâng lên một tầm cao hơn trong khâu thanh toán, tiến tới mục tiêu là ngân hàng hiện đại, đủ sức cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế.4: Tình hình thanh toán từ năm 2005 đến năm 2008 Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 Máy ATM (Máy) 38 134 185 216 Thanh toán qua NH 55,14% 75,23% 79,08% 80,1% (Nguồn: Các báo cáo của NHNN chi nhánh tỉnh Bình Dương) 19 2. Hoạt động cho thuê tài chính trên địa bàn tỉnh Bình Dương 2. Hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam trong thời gian qua Xuất hiện ở Việt Nam từ khoảng năm 1997, đến nay Việt Nam hiện có 13 công ty cho thuê tài chính, trong đó 9 công ty thuộc ngân hàng thương mại, 1 công ty liên doanh và 3 công ty 100% vốn nước ngoài.
Hiện nay, địa bàn hoạt động của các công ty cho thuê tài chính còn co cụm, không được phân bổ đều giữa các vùng miền. Trong các công ty cho thuê tài chính đang hoạt động thì hầu hết có trụ sở tại Hà Nội, TP. Trong đó chỉ có công ty ALC1 mở chi nhánh tại Hải Phòng; ALC 2 mở các chi nhánh tại các tỉnh Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Nha Trang, Quảng Ninh và Bình Dương; VCBL có trụ sở tại Hà Nội, mở chi nhánh tại TP.HCM; BLC có trụ sở tại Hà Nội, chi nhánh tại TP.HCM, còn các công ty khác chỉ có một trụ sở chính duy nhất. Thời gian đầu mới ra đời, việc đặt trụ sở tại các thành phố công nghiệp lớn là chính sách đúng đắn, nhưng sau hơn 10 năm hoạt động mà vẫn chỉ tập trung tại các thành phố này trong khi các ngân hàng đã phát triển mạng lưới đến từng thôn xóm thì chính các công ty đã tự giới hạn khả năng mở rộng thị phần của mình.
Theo báo cáo tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước, doanh số cho thuê của các công ty cho thuê tài chính trong những năm gần đây như sau: Bảng 2.6: Doanh số cho thuê của các Công ty cho thuê tài chính từ 2004 đến 2008: (Đơn vị tính: tỷ đồng) Năm 2004 2005 2006 2007 2008 Tổng cộng 6.091 Thị trường cho thuê tập trung chủ yếu ở hai khu vực TP.