mở đầu cho hoạt động dịch vụ thẻ tại Việt Nam. Tháng 8/1996, Hội các ngân hàng thanh toán thẻ Việt Nam được thành lập gọi là “ Hội thẻ ngân hàng Việt Nam” với mục đích hợp tác cùng có lợi để phát triển thị trường thẻ Việt Nam. Sự ra đời của Hội thẻ ngân hàng Việt Nam đánh dấu một bước phát triển mới của thị trường thẻ Việt Nam, tăng cường sự họp tác giữa các ngân hàng, cung cấp kinh nghiệm quản lý, hạn chế rủi ro trong kinh doanh thẻ, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh, nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ và hệ thống công nghệ để phục vụ khách hàng. Ngày 19/10/1999, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 371/1999/ QĐ- 6 NHNN1.
Văn bản này được coi là cơ sở pháp lý chính thức đầu tiên quy định phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng và đây cũng là cơ sở pháp lý cho hoạt động của thị trường thẻ Việt Nam. Thị trường thẻ Việt Nam trong những năm từ 2006 đến 2009 cũng như 6 tháng đầu năm 2010 có bước phát triển vượt bậc, sôi động vì Việt Nam đã bước vào sân chơi WTO, thị trường tài chính Việt Nam ngày càng cạnh tranh quyết liệt hơn khi có thêm nhiều ngân hàng nước ngoài đầu tư vào đây và dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ATM là một loại “vũ khí” đắc lực để ngân hàng thâm nhập thị trường. Hàng loạt sản phẩm thẻ thanh toán ra đời, mở ra cuộc so tài phát hành thẻ giữa các ngân hàng trong nước. Đầu tiên là Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam-Techcombank.
Ngân hàng này đã tung ra hàng loạt thẻ thanh toán, nổi trội là thẻ Fastaccess.Tiep theo đó là ngân hàng TMCP sài Gòn Thương tín - Sacombank đã kết hợp cùng với tổ chức Visa ra mắt thẻ thanh toán Quốc tế Sacom Visa debit. Đây là phương tiện thanh toán năng động nhằm vào giới doanh nhân: chủ tài khoản có thể dùng thẻ trong và ngoài nước. Ngày nay, các ngân hàng tham gia vào thị trường thẻ ngày một nhiều và hướng tới phục vụ thẻ cho đông đảo quần chúng với các sản phẩm đa dạng phục vụ nhu cầu khách hàng.Thị trường thẻ giờ đây đã góp một phần quan trọng không thể thiếu trong xu thế hội nhập quốc tế để phát triển Việt Nam. Nhờ vào những tiện ích mà thẻ đem lại đã góp phần thay đổi dần thói quen không dùng tiền mặt trong dân cư, nâng cao dân trí, sử dụng dịch vụ ngân hàng văn minh, khuyến khích phát triển kinh doanh dịch vụ thẻ, góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa, kinh tế xã hội phát triển.2 Nội dung chủ yếu của thẻ thanh toán 1.1 Khái niệm về thẻ thanh toán Nói về thẻ là nói đến thẻ ngân hàng.
Hiện nay có nhiều cách nhìn nhận 7 về Vấn đề này. Tùy từng góc độ nghiên cứu, phân tích, người ta đưa ra các khái niệm khác nhau, song điểm chung nhất đều thống nhất là, bản chất thẻ thanh toán là phương tiện để thanh toán, chi trả mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thoả mãn nhu cầu sử dụng nguồn tài chính của mình như rút tiển mặt, chuyển tiền thanh toán hàng hóa. Thẻ thanh toán không phải là đồng tiền, nó là biểu tượng về sự cam kết của ngân hàng hoặc tổ chức phát hành đảm bảo thanh toán những khoản tiền do chủ thẻ sử dụng bằng tiền vay ngân hàng hoặc tiền của chính chủ thẻ đã gửi tại ngân hàng. Nhìn nhận theo từng góc độ khác nhau sẽ có những khái niệm khác nhau về thẻ thanh toán.
Chẳng hạn: Từ góc độ phát hành: Thẻ thanh toán là phương tiện do ngân hàng, các định chế tài chính hoặc các công ty phát hành dùng để giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt hoặc sử dụng làm công cụ thực hiện các dịch vụ tự động do ngân hàng hoặc các tổ chức khác cung cấp. Từ góc độ công nghệ thanh toán: Thẻ thanh toán là phương thức thanh toán ghi sổ điện tử số tiền của các giao dịch cần thanh toán thực hiện trên hệ thống thanh toán được kết nối giữa các chủ thể tham gia dựa trên nền tảng công nghệ ngân hàng và tin học viễn thông. Theo quy chế phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày 19/10/1999 của Thống đốc NHNN và xét theo mục đích sử dụng thì thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ không dùng tiền mặt hoặc có thể rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc các ngân hàng. Qua quá trình chọn lọc, từ thẻ kim loại lúc ban đầu, đến nay hầu hết các loại thẻ được làm bằng nhựa címg với kích thước thông thường là 95mm X 55mm X 0.76 mm, gồm 3 lớp: lõi thẻ là lớp nhựa cứng ở giữa và 2 lớp nhựa cán phủ 2 mặt.
Tùy theo phương pháp truy cập và quản lý, xử lý thông tin thẻ 8 mà thẻ được cấu tạo dải băng từ (thẻ từ) hoặc mạch vi điện tử (chip) ghi số liệu gọi là thẻ chip hoặc có cả băng từ, cả chip. - Mặt trước của thẻ: Thường bao gồm: o Nền thẻ, màu thẻ tùy thuộc vào từng ngân hàng tự chọn và tùy thuộc vào hạng thẻ do ngân hàng phát hành quy định, o Tên và logo của ngân hàng phát hành, huy hiệu của tổ chức thẻ và biểu tượng của tổ chức đó như MasterCard, V isa,. Tùy theo từng loại thẻ mà mặt trước có cấu trúc khác nhau. Chẳng hạn, đối với thẻ Chip thì chip được bố trí ở mặt trước hoặc số thẻ: Mỗi thẻ được ấn định một số riêng biệt để quản lý tùy thuộc của tổ chức thẻ quốc tế.
o Ngày hiệu lực của thẻ được in nổi trên thẻ, thông thường sẽ được in từ tháng/ năm phát hành đến tháng/năm hết hạn của thẻ. o Họ tên chủ thẻ. - Mặt sau của thẻ: Thường bao gồm: o Dải băng từ (đối với thẻ từ hoặc thẻ từ có chip) màu đen có khả năng lưu trữ các thông tin số thẻ, ngày hiệu lực, tên ngân hàng phát hành, tên chủ thẻ, mã số khách hàng của chủ thẻ. o Dải băng dành cho chủ thẻ ký chữ ký mẫu để đơn vị chấp nhận thẻ kiểm tra khi sử dụng.
Hiện nay công nghệ in thẻ cho phép in được chữ ký của chủ thẻ lên mặt trước của thẻ. o Một số hướng dẫn, lưu ý khi sử dụng thẻ. Từ các góc độ nhìn nhận về thẻ thanh toán nêu trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm chung về thẻ thanh toán như sau: Thẻ thanh toán là một loại hình đặc thù trong số các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt ứng dụng công nghệ điện tử do tổ chức phát hành thẻ cung cấp cho khách hàng để thực hiện các giao dịch tài chính như nạp và rút tiền mặt, chuyển tiền, thanh toán hàng hoá và dịch vụ. và sử dụng các dịch vụ tự động khác của ngân hàng.2 Phân loại thẻ thanh toán Trên thị trường có nhiều loại thẻ thanh toán khác nhau, do nhiều tổ chức phát hành và cung cấp dịch vụ.Tùy theo từng tiêu chí, thẻ thanh toán được phân loại như sau: a- Phân loại theo đặc tính kỹ thuật: Gồm 3 loại: - Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): Đây là loại thẻ được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi.
Trên bề mặt thẻ được khắc chữ nổi các thông tin cần thiết. Hiện nay, người ta không sử dụng loại thẻ này vì kỳ thuật sản xuất thẻ quá thô sơ, dễ bị làm giả, không an toàn cho người sử dụng. - Thẻ từ (Magnetic Stripe): Loại thẻ này được sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính với một dải băng từ chứa hai rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ này được sử dụng phổ biến hơn 20 năm nay.
Tuy nhiên, loại thẻ có một số nhược điểm như: o Khả năng bị lợi dụng cao do thông tin ghi trên thẻ không tự mã hóa được, người ta có thể đọc dễ dàng bằng các thiết bị đọc có gắn với máy vi tính. o Thẻ mang tính thông tin cố định, khu vực chứa thông tin hẹp, không áp dụng được các kỹ thuật mã đảm bảo an toàn. Do đó, trong những năm gần đây loại thẻ này đã bị lợi dụng lấy cắp tiền. - Thẻ thông minh (Smart Card): Đây là loại thẻ nhựa có gắn một con chip điện tử.
So với các thẻ từ hiện nay, khả năng kết nối với máy tính của loại chip này cho phép thẻ thông minh thực hiện được nhiều lựa chọn thanh toán và dịch vụ ở mức độ an toàn hơn, thuận tiện và nhiều lựa chọn hơn. Thẻ thông minh có thê lưu trữ các thông tin quan trọng được mã hóa với độ bảo mật cao hơn các loại thẻ từ khác rất nhiều. Trong thanh toán, thẻ thông minh có thể kết hợp đa chức năng và ứng dụng từ các ngành khác nhau như khả năng tính điểm ưu đãi cho khách hàng quen thuộc, nhận dạng, truyền dẫn hay thông tin sức khỏe. Thẻ 10 thông minh cũng cho phép ứng dụng các sản phẩm, tính năng và ứng dụng hiện tại vào các lĩnh vực mới về khách hàng và thanh toán.
Loại thẻ này còn cho phép lưu giữ và trao đổi thông tin về chủ thẻ với độ bảo mật cao trong thương mại điện tử và di động, b- Phân loại theo chủ thẻ phát hành: Gồm có 3 loại: - Thẻ do ngân hàng phát hành: Đây là loại thẻ giúp cho khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. Loại thẻ này hiện nay được sử dụng khá phổ biến. Nó không chỉ được lưu hành trên một quốc gia mà còn có thẻ lưu hành trên toàn cầu như thẻ Visa, M aster. - Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: Là loại thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành như Dinner Club, A m ex.
và cũng được lưu hành trên toàn cầu. - Thẻ liên kết: Đây là sản phẩm thẻ ngân hàng được phát hành thông qua sự liên kết gữa một ngân hàng hay công ty tài chính với một chủ thể thương mại. Thẻ liên kết mang lại lợi thế cho nhà ngân hàng phát hành, đối tác liên kết và chủ thẻ. Sử dụng sản phẩm thẻ liên kết khách hàng sẽ nhận được ưu đãi từ ngân hàng phát hành và từ phía đối tác liên kết.
các ngân hàng có thể đưa ra ưu đãi giảm giá, khuyến mại, chương trình điểm thưởng nhằm khuyến khích khách hàng chi tiêu bằng thẻ. c- Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ - Thẻ tín dụng (credit card): Đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất.