BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ DIỄM KIỀU VIỆT NAM VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN NGƯỠNG CẦN THIẾT TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP TÀI CHÍNH TOÀN CẦU LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP Hồ Chí Minh, năm 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ DIỄM KIỀU VIỆT NAM VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN NGƯỠNG CẦN THIẾT TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP TÀI CHÍNH TOÀN CẦU Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng Mã số : 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG TP Hồ Chí Minh, năm 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ kinh tế “Việt Nam và những điều kiện ngưỡng cần thiết trong quá trình hội nhập tài chính toàn cầu” là công trình nghiên cứu của riêng tôi và các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực. Học viên Nguyễn Thị Diễm Kiều MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG DANH MỤC HÌNH TÓM TẮT. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY.
Mâu thuẫn giữa lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về lợi ích của tự do hóa tài chính. Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hội nhập tài chính 8 2. Mức độ phát triển tài chính. Chất lượng thể chế.
Mở cửa thương mại. Chính sách vĩ mô. Nghiên cứu về hiệu quả hội nhập tài chính ở Việt Nam. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU.
Mô hình thực nghiệm. Mô hình tổng quát. Chiến lược thực nghiệm. Kỹ thuật ước lượng.
Phương pháp đo lường. Độ mở tài chính. Các biến ngưỡng. KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG.
Những kiểm định ban đầu. Các điều kiện ngưỡng cần thiết để hội nhập tài chính hiệu quả. Ngưỡng độ sâu tài chính. Các ngưỡng thay thế khác.
Phân tích các thành phần của hội nhập tài chính. ĐÁNH GIÁ THỰC TẾ TẠI VIỆT NAM TRONG TƯƠNG QUAN VỚI CÁC NGƯỠNG CẦN THIẾT VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH. Thực tế tại Việt Nam so với các ngưỡng cần thiết để hội nhập tài chính hiệu quả. Hàm ý chính sách .57 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Ký hiệu Từ đầy đủ tiếng Anh Ý nghĩa AREAER Annual Report on Exchange Báo cáo hàng năm của IMF về Các Arrangements and Exchange thỏa thuận trao đổi và Hạn chế giao Restrictions dịch CPI Consumer price index Chỉ số giá tiêu dùng EM Emerging markets Các thị trường mới nổi FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài FE Fixed effects Phương pháp ước lượng với tác động cố định GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội IFS International Financial Statistic Thống kê tài chính toàn cầu của IMF IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ thế giới ODC Other developing countries Các nước đang phát triển khác Sys GMM System Generalized Method of Phương pháp Generalized Method Moments of Moments hệ thống WDI World Development Indicators Các chỉ số phát triển toàn cầu WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1: Nguồn dữ liệu .1: Tăng trưởng tại các thị trường mới nổi và các nước đang phát triển khác29 Bảng 4.2: Tương tác của Tín dụng tư nhân và Độ mở tài chính tổng thể trên GDP 32 Bảng 4.3: Độ nhạy của ngưỡng đối với biến kiểm soát và đo lường độ sâu tài chính35 Bảng 4.4: Độ nhạy của ngưỡng khi loại bỏ các nhóm đặc biệt khỏi mẫu .5: Các ngưỡng thay thế khác .6: Tương tác của độ mở tài chính tổng thể với các khía cạnh của chất lượng thể chế .7: Hệ số tương tác với các đo lường độ mở tài chính khác.
44 DANH MỤC HÌNH Hình 2.1: Ngưỡng trong quá trình hội nhập tài chính .1: Tác động của các biến ngưỡng cụ thể đến hiệu quả hội nhập tài chính .1: Mức độ mở cửa tài chính của Việt Nam .2: Tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP của Việt Nam và ngưỡng cần thiết để hội nhập tài chính hiệu quả (%) .3: Trung bình chỉ số chất lượng thể chế của Việt Nam giai đoạn 1996 – 2013 và ngưỡng cần thiết ước lượng .4: Các chỉ số phản ảnh chất lượng thể chế của Việt Nam giai đoạn 1996 – 2013) và các ngưỡng cần thiết ước lượng .5: Diễn biến các thành phần vốn vào Việt Nam giai đoạn 1989 – 2011. 52 1 TÓM TẮT Khủng hoảng tài chính toàn cầu một lần nữa nung nóng cuộc tranh luận gay gắt về những giá trị của toàn cầu hóa tài chính và tác động của nó đối với sự phát triển và biến động của các nền kinh tế, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm chưa tìm thấy một cách thuyết phục lợi ích tăng trưởng của hội nhập tài chính. Dường như vẫn tồn tại một số “ngưỡng” điều kiện ban đầu cần thiết phải đạt được trước khi có thể nhận được đầy đủ lợi ích và giảm thiểu rủi ro của tự do hóa tài khoản vốn.
Dựa trên khuôn khổ phân tích của Kose và cộng sự (2011), bài nghiên cứu xem xét một loạt các cấu trúc thực nghiệm trên nội dung của điều kiện ngưỡng, ước lượng các ngưỡng càn thiết để hội nhập tài chính hiệu quả, từ đó cung cấp các định hướng chính sách. Kết quả cho thấy, tồn tại ngưỡng của các biến cụ thể là các nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến mối quan hệ giữa hội nhập tài chính và tăng trưởng. Trong đó, hai ngưỡng được xác định rõ nhất là độ sâu tài chính và chất lượng thể chế. Đối với Việt Nam, kết quả nghiên cứu cho thấy, trình độ phát triến tài chính của Việt Nam đã bước đầu đáp ứng các điều kiện ngưỡng cần thiết để hội nhập tài chính hiệu quả.
Ngược lại, với ngưỡng chất lượng thể chế, Việt Nam đang ở rất xa so với ngưỡng cần thiết. Từ khóa: Hội nhập tài chính, tự do hóa tài khoản vốn, tăng trưởng, điều kiện ngưỡng, phát triển tài chính, thể chế 2 1. GIỚI THIỆU Trong những năm gần đây, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã ngày càng hội nhập sâu hơn vào thị trường tài chính quốc tế, cả về mặt quy định lẫn mức độ tích hợp thực tế. Đồng thời, theo cam kết với WTO, tài khoản vãng lai và tài khoản vốn của Việt Nam sẽ phải được mở rộng cửa vào năm 2018 (Ủy ban Kinh Tế Quốc Hội, 2013).
Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính toàn cầu một lần nữa nung nóng cuộc tranh luận gay gắt về những giá trị của toàn cầu hóa tài chính và tác động của nó đối với sự phát triển và biến động của các nền kinh tế, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm chưa tìm thấy một cách thuyết phục về lợi ích tăng trưởng của hội nhập tài chính. Nhiều nền kinh tế mới nổi và đang phát triển đã tiếp nhận một đợt tăng dòng vốn vào trong thập kỷ trước, sau đó trải qua một sự đảo ngược mạnh của một loạt các dòng vốn tại cao điểm của cuộc khủng hoảng. Lúc này, mối liên hệ tài chính giữa các nền kinh tế đóng vai trò như một kênh lan truyền rối loạn tài chính toàn cầu để cuối cùng đạt tới đỉnh điểm (Kose et al.
Về lý thuyết, toàn cầu hóa tài chính quốc tế cần tạo điều kiện phân bổ vốn hiệu quả và thúc đẩy chia sẻ rủi ro quốc tế. Những lợi ích này nên lớn hơn nhiều cho các nước đang phát triển – những quốc gia tương đối khan hiếm vốn và lao động phong phú, vì vậy tiếp cận nguồn vốn nước ngoài có thể giúp họ tăng cường đầu tư và phát triển nhanh hơn. Nước đang phát triển cũng có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn các nền kinh tế công nghiệp tiên tiến, điều này làm cho lợi ích tiềm năng của họ từ việc chia sẻ rủi ro quốc tế lớn hơn. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm đã không thể chứng minh thuyết phục những lợi ích tăng trưởng và ổn định của hội nhập tài chính.
Đặc biệt, các nghiên cứu đa quốc gia đã không mang lại bằng chứng mạnh mẽ rằng mở cửa tài chính có tác động tích cực đến tăng trưởng. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu kinh tế vi mô (công ty hoặc ngành) hoặc các nghiên cứu sự kiện cụ thể như tự do hóa thị trường vốn, phát hiện tác dụng tăng trưởng đáng kể (Javorcik, 2004; Chari and Henry, 2004; 3 Mitton, 2006), nhưng nó vẫn là một câu hỏi mở, liệu những ảnh hưởng này có được duy trì khi xem xét khái niệm tổng quát hơn về mở cửa tài chính và ảnh hưởng của nó đối với tăng trưởng. Kose và cộng sự (2009) xem xét các tài liệu rộng lớn này và đề xuất một khuôn khổ thay thế cho việc phân tích các tác động kinh tế vĩ mô của toàn cầu hóa tài chính để tổng hợp những dải chứng cứ khác nhau. Các tác giả chỉ ra, về mặt lý thuyết, toàn cầu hóa tài chính phải thúc đẩy phát triển thị trường tài chính trong nước, cải thiện quản trị doanh nghiệp và quản lý công, và khuyến khích kỷ luật chính sách kinh tế vĩ mô tốt hơn.
Những lợi ích gián tiếp như vậy có thể quan trọng hơn so với các kênh tài trợ truyền thống được nhấn mạnh trong phân tích trước đây. Thật vậy, nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, các nước đang phát triển cởi mở hơn với một số loại của các dòng tài chính nhưng tổng thể ít phụ thuộc vào vốn nước ngoài và tài trợ đầu tư của mình thông qua tiết kiệm trong nước nhiều hơn, có biểu hiện tăng trưởng trung bình tốt hơn về mặt thực nghiệm (Aizenman et al., 2007; Gourinchas và Jeanne, 2007; và Prasad et al. Tuy nhiên, một vấn đề quan trọng là dường như vẫn có một số "ngưỡng" mức độ phát triển tài chính và thể chế mà một nền kinh tế cần phải đạt được trước khi có thể nhận được đầy đủ lợi ích và giảm thiểu rủi ro của tự do hóa tài khoản vốn. Thông thường, các nước công nghiệp - thường có thể chế tốt hơn, chính sách vĩ mô ổn định hơn, và thị trường tài chính sâu hơn so với các nước đang phát triển - được hưởng lợi chính của toàn cầu hóa tài chính nhiều hơn.
Điều này dẫn đến việc nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, các nước đang phát triển nên tập trung vào xây dựng năng lực thể chế của họ và củng cố thị trường tài chính của mình trước khi mở cửa tài khoản vốn (Rodrik và Subramanian, 2009). Làm thế nào để cân bằng những nhận xét này với những lợi ích tiềm năng thu được từ hội nhập tài chính là một câu hỏi chính sách cấp bách.