Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI THEO ĐỊNH HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA 1. Cơ sở lí luận về phát triển chăn nuôi theo định hướng sản xuất hàng hóa 1. Các khái niệm cơ bản * Khái niệm về nông nghiệp (theo nghĩa hẹp) Theo truyền thống, nông nghiệp (theo nghĩa hẹp) bao gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp.
Trong mỗi một ngành lại chia ra nhiều phân ngành. Chẳng hạn, các phân ngành cây lương thực, cây công nghiệp,… trong trồng trọt, hay chăn nuôi gia súc lớn (trâu, bò), gia súc nhỏ (heo, cừu, dê) và gia cầm trong chăn nuôi. (Nguyễn Minh Tuệ và Lê Thông, 2015) * Khái niệm về phát triển chăn nuôi theo định hướng sản xuất hàng hóa Phát triển chăn nuôi theo định hướng hàng hóa cần bền vững trong đó công tác bảo vệ môi trường được chú trọng quan tâm. Do vậy, tại các địa phương đã hướng dẫn và khuyến khích các hộ chăn nuôi áp dụng các biện pháp xử lý chất thải như làm bể sục khí, xây dựng hầm biogas, sử dụng chế phẩm sinh học.
góp phần cải thiện môi trường. Công tác vệ sinh, phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm được thường xuyên giám sát chặt chẽ. Nhờ vậy, nhiều năm qua tại các địa phương không để xảy ra dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nào, đảm bảo an toàn cho vật nuôi phát triển. Theo tác giả, phát triển chăn nuôi theo định hướng sản xuất hàng hóa là tập trung hóa về giống vật nuôi, công nghệ được áp dụng trong chăn nuôi, công tác thú y nhằm kiểm soát bệnh truyền nhiễm gây ảnh hưởng đến vật nuôi.
Bên cạnh đó, việc tổ chức sản xuất, liên kết sản xuất và tiêu thụ theo chuỗi sản phẩm nhằm nâng cao giá trị các mặt hàng nhằm tiêu thụ trong nước cũng như có giá trị xuất khẩu ra nước ngoài. Cùng với việc phát triển chăn nuôi theo định hướng sản xuất hàng hóa đó là việc bảo vệ môi trường với các biện pháp như làm bể sục khí, xây dựng hầm biogas, sử dụng chế phẩm sinh học. góp phần cải thiện môi trường. * Khái niệm về loài, giống vật nuôi Luan van 13 Theo Nguyễn Kim Cương (2011) có đề cập, “Loài là quần thể lớn được hình thành trong điều kiện tự nhiên, được con người thuần hóa ở một số địa phương khác nhau và dần dần hình thành một số giống”.
Giống là tập hợp những gia súc có cùng loại, có chung nguồn gốc hình thành, có cùng một số đặc điểm di truyền nhất định về tính trạng như tính trạng chất lượng (màu da, sắc lông) và tính trạng số lượng (lượng sữa, lượng trứng,…). Những đặc điểm này có thể truyền cho thế hệ sau và cho phép phân biệt giống này với giống khác. (Nguyễn Kim Cương, 2011) Giống vật nuôi là một tập hợp các vật nuôi có chung một nguồn gốc, được hình thành trong điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội nhất định do quá trình chọn lọc và nhân giống của con người, có số lượng nhất định để có thể là nhân giống trong nội bộ của nó, các giống vật nuôi trong cùng một giống có các đặc điểm về ngoại hình, thể chất, đặc tính sinh lí, sinh hóa và lợi ích kinh tế giống nhau, các đặc điểm di truyền này có thể di truyền qua các thế hệ và cho phép phân biệt giống này với giống khác. (Nguyễn Kim Cương, 2011) * Khái niệm về vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm Theo Đống Thị Anh Đào (2016) có đề cập, “Chế biến thực phẩm là quá trình xử lí thực phẩm đã qua sơ chế hoặc thực phẩm tươi sống theo phương pháp công nghiệp hoặc thủ công để tạo thành nguyên liệu thực phẩm hoặc sản phẩm thực phẩm”.
Vệ sinh an toàn thực phẩm là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng. (Đống Thị Anh Đào, 2016) * Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm “Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá, thông qua tiêu thụ mà hàng hoá được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị (tiền tệ) và vòng chu chuyển vốn của doanh nghiệp được hoàn thành”. (Lê Thị Mai Hương, 2017) Luan van 14 Theo tác giả, tiêu thụ sản phẩm đơn giản được cấu thành từ người bán người mua hàng hoá, tiền tệ, khả năng thanh toán, sự sẵn sàng mua và bán. nhằm tối đa hoá lợi nhuận mỗi bên.
Đặc điểm và vai trò của chăn nuôi theo định hướng sản xuất hàng hóa * Đặc điểm phát triển chăn nuôi theo định hướng sản xuất hàng hóa Đặc điểm quan trọng nhất của ngành chăn nuôi là sự phát triển và phân bố phụ thuộc chặt chẽ vào cơ sở thức ăn, phần lớn thức ăn phục vụ chăn nuôi đều do ngành trồng trọt cung cấp. Vì thế, ở đâu ngành trồng trọt phát triển, con người không phải quan tâm đến đến lương thực cho bản thân mình thì ở đó có nhiều điều kiện để đẩy mạnh ngành chăn nuôi phát triển. Sự khác biệt về chất lượng của cơ sở thức ăn được thể hiện khá rõ trong cơ cấu và phương hướng chăn nuôi. Điều này thể hiện qua khâu chế biến thức ăn phục vụ cho chăn nuôi có chất lượng cao hay thấp, mà từ đó sẽ lựa chọn phương hướng chăn nuôi phù hợp với điều kiện thực tế và cũng như có một cơ cấu chăn nuôi mang lại hiệu quả tốt nhất.
Cơ sở thức ăn cho chăn nuôi đã có những bước tiến bộ vượt bậc nhờ những thành tựu về khoa học công nghệ. Ngành chăn nuôi trước kia dựa hoàn toàn vào nguồn thức ăn tự nhiên, rồi dần dần chuyển sang phụ phẩm của ngành trồng trọt và hiện nay chủ yếu là nguồn thức ăn chế biến bằng phương pháp công nghiệp. Trong việc phát triển chăn nuôi theo định hướng sản xuất hàng hóa, thì cơ sở chăn nuôi cũng có nhiều thay đổi (từ chăn nuôi chăn thả sang chăn nuôi nửa chuồng trại, rồi chuồng trại đến chăn nuôi công nghiệp) và theo định hướng chuyên môn hóa (thịt, sữa, trứng,…). * Vai trò của chăn nuôi theo định hướng sản xuất hàng hóa Trong nền kinh tế tự cấp, tự túc trước đây, chăn nuôi chưa được coi là ngành sản xuất độc lập, mà chủ yếu hỗ trợ cho trồng trọt.
Đối với chăn nuôi gia súc nhỏ và gia cầm trong gia đình phần lớn không có mục đích kinh doanh, chỉ phòng khi cơ nhỡ và dùng khi có việc đại sự (cưới xin, giỗ tết,…). Do chỉ thỏa mãn những nhu cầu nhỏ bé của xã hội nên chăn nuôi không đủ kích thích sản xuất định hướng hàng hóa phát triển. Luan van 15 Cơ chế thị trường mở ra, chăn nuôi đã mở rộng sản xuất định hướng hàng hóa nhằm cung cấp kịp thời cho nhu cầu ngày càng cao của thị trường tiêu thụ. Chăn nuôi, vì thế đang tăng dần vai trò trong việc cung cấp nguồn thực phẩm dinh dưỡng cho con người, tạo cơ sở nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu.
Chăn nuôi có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm có dinh dưỡng cao từ nguồn đạm động vật và đảm bảo sự cân đối trong khẩu phần ăn của con người. Các sản phẩm có giá trị kinh tế cao như thịt, trứng, sữa có khả năng đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng thiết yếu hàng ngày của dân cư. Chăn nuôi còn cung cấp nhiều sản phẩm làm nguyên liệu quý cho các ngành công nghiệp hàng tiêu dùng (tơ tằm, lông cừu, da), công nghiệp chế biến thực phẩm (đồ hộp) và dược liệu,… Đây cũng là ngành ngày càng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm đặc sản tươi sống và sản phẩm chế biến có giá trị cho xuất khẩu. Trong nông nghiệp, chăn nuôi và trồng trọt có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau.
Chăn nuôi cung cấp cho trồng trọt nguồn phân bón hữu cơ, không chỉ góp phần tăng năng suất cây trồng mà còn góp phần cải tạo đất rất tốt. Ở nhiều vùng, trồng trọt phát triển vẫn cần sức kéo do chăn nuôi cung cấp cho các hoạt động canh tác và vận chuyển. Mặc dù hiện nay vai trò cung cấp sức kéo của chăn nuôi đối với trồng trọt đã có xu hướng giảm xuống, song vai trò của chăn nuôi nói chung ngày càng vẫn tăng lên. Xã hội càng phát triển, mức tiêu dùng của người dân về sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm.
Vai trò của ngành chăn nuôi ngày càng được khẳng định. Do vậy, mức đầu tư cho ngành chăn nuôi có xu hướng tăng nhanh. Sự phát triển của ngành chăn nuôi có thể coi là một trong những chỉ tiêu đánh giá cho một nền nông nghiệp tiên tiến. Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi có điều kiện phát triển và tăng dần tỉ trọng khi lượng lương thực không chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu dân cư, mà còn cho cả vật nuôi.
Sự áp dụng những thành tựu khoa học – kĩ thuật vào trong quá trình phát triển chăn nuôi ngày càng sâu rộng, từ khâu sản xuất cho đến thành phẩm. Bên cạnh Luan van 16 đó, nhu cầu thị trường cũng đã tạo đà cho ngành chăn nuôi nước ta có những bước tăng trưởng nhất định. Chăn nuôi đã được xem như ngành sản xuất chính của nền nông nghiệp nước ta. Trong nền kinh tế quốc dân, chăn nuôi đóng vai trò khá quan trọng, nó góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế và góp một lượng hàng hoá cho xuất khẩu.
Tuỳ theo lợi thế so sánh của mình, mỗi nước có thể xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp mà trong đó có một phần là sản phẩm chăn nuôi để thu ngoại tệ hay trao đổi để lấy các sản phẩm công nghiệp đầu tư lại cho ngành nông nghiệp và các ngành kinh tế khác. Vì thế sự phát triển của ngành chăn nuôi sẽ ảnh hưởng tới phân bổ và phát triển các ngành sản xuất công nghiệp. Chăn nuôi không những cung cấp nguồn sản phẩm hàng hoá cho thị trường trong nước và cho xuất khẩu mà nó còn giúp sử dụng một cách đầy đủ và hợp lí lực lượng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp nông thôn. Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao, hơn nữa lao động trong nông nghiệp lại chiếm một tỉ trọng khá lớn trong tổng số lao động của nước ta và các nước đang phát triển khác.
Lực lượng lao động này có một thời gian nhàn rỗi mhiều do tính chất thời vụ trong sản xuất sinh ra.