phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển chăn nuôi bò thịt Chƣơng 2: Thực trạng phát triển chăn nuôi bò thịt ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam Chƣơng 3: Giải pháp phát triển chăn nuôi bò thịt ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT 1. Một số khái niệm - Khái niệm chăn nuôi bò thịt Bò thịt là một loại tài sản có giá trị của nông dân. Trƣớc kia khi máy móc chƣa phát triển bò đƣợc dùng làm sức kéo còn phổ biến, là đầu cơ nghiệp của nhà nông.
Ngày nay, ở nhiều nơi máy móc đã thay thế dần vai trò của bò trong khâu làm đất, nhu cầu sử dụng thịt bò làm thực phẩm của ngƣời tiêu dùng ngày càng cao, con bò đã trở thành một loại tài sản đặc biệt, một loại hàng hóa có giá trị của ngƣời nông dân và chăn nuôi bò với mục đích lấy thịt đã trở thành một ngành kinh tế sản xuất hàng hóa. Sản xuất hàng hóa là một thuộc tính phổ biến, một tất yếu khách quan của sự phát triển sản xuất nói chung và chăn nuôi bò nói riêng. Các sản phẩm của chăn nuôi bò thịt đƣợc tiêu thụ rộng khắp ở mọi nơi. Ngƣời nông dân ngày càng chú trọng phát triển chăn nuôi bò thịt theo hƣớng sản xuất hàng hóa, điều đó thể hiện thông qua việc họ đầu tƣ nhiều hơn về nhân lực, tài lực, vật lực cho chăn nuôi, vận dụng các kiến thức kỹ thuật chăn nuôi bò thịt tiên tiến nhƣ kỹ thuật cải tạo đàn bò, lựa chọn giống bò có năng suất và chất lƣợng cao, kỹ thuật chăm súc đàn bò, kỹ thuật sản xuất thức ăn chăn nuôi.
Quy mô, cơ câu đàn bò và phƣơng thức chăn nuôi theo xu hƣớng tăng số lƣợng, chất lƣợng và chăn nuôi theo phƣơng thức công nghiệp ngày càng cao tại các nông hộ, các hợp tác xã, các trang trại. Là sản phẩm hàng hóa nên bò thịt không khỏi ảnh hƣởng bởi sự tác 13 động của các yếu tố thị trƣờng nhƣ giá cá, cạnh tranh, thị phần tiêu thụ. Vì vậy, để phát triển chăn nuôi bò thịt cần phải có thị trƣờng tiêu thụ và giá cả ổn định. Chăn nuôi bò thịt có thể là quá trình chăn nuôi khép kín (từ chăn nuôi bò cái sinh san đến nuôi bê thịt) hoặc chăn nuôi không khép kín.
Trong quy trình chăn nuôi bò thịt không khép kín, phải chú trọng chăn nuôi bò cái sinh sản. Trong chăn nuôi bò thịt không khép kín, phải chú ý lựa chọn chất lƣợng bê giống khi nuôi thịt. Thực hiện đầy đủ quy trình kỹ thuật trong chăn nuôi bò thịt là cơ sở đảm bảo phát huy tối đa đặc tính di truyền của bò giống để có năng suất cao và chất lƣợng thịt tốt. Sản phẩm trong chăn nuôi bò thịt là trọng lƣợng thịt bò hơi thu đƣợc trong chu kỳ sản xuất, là trọng lƣợng thịt tăng do kết qua của quá trình chăm sóc, nuôi dƣỡng.
Trọng lƣợng thịt tăng trong chăn nuôi bò thịt gồm trọng lƣợng bê dƣới 12 tháng tuổi, trọng lƣợng lớn lên của đàn từ 13 đến 24 tháng tuổi, trọng lƣợng thịt tăng của đàn bò tơ và bò loại thai vỗ béo. Trong quá trình nuôi bò với mục đích lấy thịt, nếu bê đủ tiêu chuẩn giống có thể đƣợc chuyển sang nuôi làm đàn giống sinh sản. Đặc điểm của chăn nuôi bò thịt. + Đối tƣợng tác động của ngành chăn nuôi bò thịt là các cơ thể sống - bò thịt.
+ Chăn nuôi bò thịt có thể phát triển tĩnh tại tập trung mang tính chất nhƣ sản xuất công nghiệp hay di động phân tán mang tính chất nhƣ sản xuất nông nghiệp. + Chăn nuôi bò thịt là ngành sản xuất đồng thời cho nhiều sản phẩm. Chọn giống 14 Muốn chăn nuôi bò thịt đạt đƣợc năng suất, chất lƣợng và hiệu quả kinh tế cao, cần quan tâm đến những vấn đề cơ bản nhƣ: Giống, tuổi, giới tính, khối lƣợng lúc giết mổ, dinh dƣỡng và phƣơng thức vỗ béo. Giống là một trong những vấn đề quan trọng nhất.
Giống khác nhau thì tốc độ sinh trƣởng, phát triển, tích lũy thịt, mỡ khác nhau. Bò nuôi lấy thịt, mục tiêu chung là làm sao để bò ở giai đoạn tuổi thích hợp đạt trọng lƣợng cao, kết câu ngoại hình vững chắc, tỷ lệ thịt xẻ cao, khả năng chuyển hóa thức ăn tốt và đạt hiệu quả kinh tế cao. Chọn bò dùng để nuôi thịt hoặc dùng để sản xuất giống thịt, cần chọn bò có những đặc điểm nhƣ sau: Có tầm vóc lớn, khung xƣơng to nhƣng xƣơng nhỏ, nhiều thịt. Da bóng mƣợt, hơi nhăn đùn (lỏng lẻo).
Háo ăn, chịu đựng đƣợc điều kiện ăn khó khăn, dễ nuôi, ít bệnh. Hiền lành, dễ khống chế. Kiểm tra độ mập ốm trong trƣờng hợp muốn vỗ béo chúng trong thời gian nhất định bằng cách quan sát từ xa, quan sát gần, dùng tay xoa những góc xƣơng để xác định mập ốm hay là nhéo ở góc xƣơng. Vổ béo và xẻ thịt Trong quy trình vỗ béo và giết mổ, hiện nay ngƣời ta thƣờng nuôi bò từ 16 – 24 tháng tuổi với quy trình công nghệ cao để giết mổ.
Tuổi giết mổ khác nhau thì chất lƣợng thịt cũng khác nhau: Bê và bò tơ cho thịt màu nhạt, ít mỡ, thịt mềm và thơm ngon hơn. Bò lớn tuổi cho thịt màu đỏ, đậm, nhiều mỡ, thịt dai hơn và không thơm ngon bằng thịt bê tơ. Tỷ lệ các cơ quan nội tạng sẽ giảm theo tuổi và ngƣợc lại độ béo sẽ tăng dần lên. Thƣờng thì bò cái thớ thịt nhỏ hơn bò đực, mô giữa các cơ ít hơn, thịt 15 vị đậm hơn, vỗ béo nhanh hơn.
Ngƣợc lại bò đực có tỷ lệ thịt xẻ cao hơn bò cái cùng độ tuổi vì bò cái có cơ quan sinh dục phát triển hơn bò đực. Trong quy trình vỗ béo ngƣời ta có thể thiến bò đực lúc 7 – 12 tháng tuổi để vỗ béo, nếu bò thiến sớm để vỗ béo thì thịt bò sẽ mềm hơn và béo nhanh hơn. Khối lƣợng bò đƣa vào giết mổ phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ: Giống, khả năng tăng trọng, thời điểm tích lũy nạc lớn nhất, chế độ nuôi dƣỡng, hệ số tiêu tốn thức ăn, thị trƣờng và giá cả. Đối với việc nuôi bò thịt ta hay bò nội địa chỉ nên nuôi tối đa tới 20 tháng tuổi là giết thịt.
Lúc này tầm vóc của nó đạt khoảng 70-80% so với bò trƣởng thành. Do con bò sinh trƣởng theo giai đoạn, trong đó giai đoạn mà bò tăng trƣởng mạnh nhất là từ khi đẻ ra tới khi bò thành thục tính dục, tức là khoảng 18-20 tháng tuổi. Sau giai đoạn này, bò lớn chậm và nếu nuôi tới 5 năm tuổi thì bò ngừng sinh trƣởng. Do đó, ta chỉ nên nuôi bò tối đa tới 20 tháng tuổi là nên giết thịt.
Lúc này tầm vóc của nó đạt khoảng 70-80% so với bò trƣởng thành. Thức ăn Khi nuôi bò thịt cần chú ý nguồn thức ăn thô xanh cho bò bằng cách tăng cƣờng trồng cỏ, nhất là các giống cỏ cho năng suất cao nhƣ cỏ voi, cỏ VA 06, đồng thời sử dụng các loại phụ phẩm của cây trồng nhƣ cây ngô non, ngọn lá mía, dây lạc, dây khoai, Đặc biệt là rơm lúa ngoài ra còn thức ăn tinh hỗn hợp từ các sản phẩm nông nghiệp sẵn có nhƣ ngô, sắn, lúa gạo, lạc, đậu tƣơng phối trộn thành nguồn thức ăn hỗn hợp. Khẩu phần thức ăn vỗ béo cho trâu, bò giàu đạm và nhiều sắt, thịt có màu đỏ đậm; có nhiều bột ngô (bắp), mỡ bò sẽ vàng, thịt thơm ngon. Đối với bò Kobe, thức ăn nuôi bò là những thứ bổ dƣỡng nhƣ lúa non, cỏ tƣơi, còn đồ uống là nƣớc đƣợc chiết xuất rất tinh khiết và thậm chí là cả bia, thức ăn thô và thức ăn gia súc, nhƣ cỏ tƣơi 16 xanh, cỏ ủ chua, rơm, phế phẩm từ các nhà máy đóng hộp, còn đồ uống là nƣớc đƣợc chiết xuất, nƣớc lọc tinh khiết.
Nếu khẩu phần thức ăn có tỷ lệ phụ phẩm công nghiệp, thớ thịt bò lớn và nhiều mỡ giắt (mỡ giữa các lớp thịt). Khẩu phần thức ăn thƣờng là: thức ăn thô xanh 30 kg/ngày (cỏ tƣơi hoặc khô, rơm đƣợc ủ ure); thức ăn tinh 2,5– 3 kg/ngày với Protein tiêu hóa 100 gram, cho trâu, bò ăn 4-5 lần trong ngày, nƣớc uống 50-60 lít/ngày, có thể sử dụng nƣớc muối nồng độ 9%. Tại Trung Quốc, thậm chí bò đƣợc nuôi bằng rác, chúng đƣợc nuôi bằng cách ăn rác thải đến khi đủ lớn sẽ đem đi giết mổ. Vi khuẩn và nấm mốc, thậm chí thủy ngân và các chất hóa học độc hại khá gia súc thƣờng xuyên tiếp xúc và hấp thụ có thể dễ dàng lây lan qua con ngƣời khi giết mổ hay ăn thịt chúng.
Vai trò của phát triển chăn nuôi bò thịt. Vốn là một nƣớc nông nghiệp lạc hậu với cây lúa nƣớc là cây trồng chính, vì thế vị trí con bò trong hệ thống nông nghiệp của nƣớc ta cũng có vai trò rất khiêm tốn. Trâu và bò đƣợc nuôi trong mỗi gia đình nông dân với mục đích trƣớc hết là phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nhƣ cày ruộng, lấy phân bón ruộng, sau đó mới sử dụng bò vào mục đích kéo xe, mà cũng chỉ một số ít nơi biết chế ra xe cho bò kéo. Với mục đích cày ruộng nên trâu đƣợc nuôi nhiều ở vùng trũng, đất thịt nặng.
Bò đƣợc nuôi nhiều ở vùng trung du, ven biển đất cát nhẹ. Nuôi trâu bò với phƣơng thức chủ yếu là tận dụng nguồn thức ăn sẵn có từ bãi cỏ tự nhiên và rơm rạ dự trữ cho mùa khan hiếm thức ăn. Mùa Đông ở miền Bắc và mùa khô ở miền Nam là thời gian bò bị thiếu hụt thức ăn trầm trọng và phải sống trong môi trƣờng sống bất lợi nhƣ quá lạnh, quá nóng, bệnh dịch và thiếu nƣớc. Trong cuộc sống tự nhiên khắc nghiệt nhƣ vậy chỉ những con bò có khối lƣợng nhỏ mới có cơ hội tồn tại vì chúng cần ít dinh dƣỡng hơn cho duy trì sự sống.
Quá trình thích nghi và chọn lọc tự nhiên 17 này đã hình thành nên giống trâu bò địa phƣơng của ta nhỏ con, dễ nuôi, sinh ra để “cày ruộng”. Sau ngày miền Bắc đƣợc hoàn toàn giải phóng, chính sách ƣu tiên phát triển nông nghiệp của nhà nƣớc đã coi trâu bò là tƣ liệu sản xuất (nhƣ là máy cày vậy). Nhiều chính sách đã ban hành nhằm duy trì và phát triển đàn trâu bò để tạo nguồn sức kéo cho nông nghiệp.