CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ PHÁT TRIỂN CAO SU TIỂU ĐIỀN 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN CAO SU TIỂU ĐIỀN 1. Khái niệm về cao su tiểu điền và tính tất yếu phát triển cao su tiểu điền 1. Khái niệm về cao su tiểu điền Trong ngành cao su Việt Nam và trên thế giới có nhiều hình thức trồng khác nhau.
Xét trên quy mô diện tích thì có cao su “đại điền” và cao su “tiểu điền”. Cao su đại điền là cao su có quy mô diện tích lớn, tập trung chủ yếu ở các công ty, các doanh nghiệp, các nông lâm trường… có diện tích vài trăm đến vài chục ngàn ha. Còn cao su tiểu điền là cao su có quy mô diện tích nhỏ, phân tán từ một đến vài chục ha, được trồng chủ yếu ở các hộ nông dân. Cao su tiểu điền là vườn cao su thuộc sở hữu của nông dân, do nông dân tự bỏ vốn ra đầu tư hoặc do các tổ chức cho nông dân vay vốn phát triển cao su nhân dân.
Nội dung phát triển cao su tiểu điền Dựa trên lý luận về sự phát triển kinh tế, chúng ta có thể quan niệm phát triển cao su tiểu điền là sự gia tăng về quy mô, sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu cây trồng, cơ cấu chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế xã hội. Như vậy phát triển cao su tiểu điền bao hàm cả sự biến đổi về số lượng và chất lượng. Sự phát triển về mặt lượng là làm tăng khối lượng sản phẩm cao su, gia tăng sản lượng hàng hóa cao su, mở rộng thị trường tiêu thụ…điều đó thể hiện qua sự gia tăng các yếu tố đầu vào như gia tăng quy mô diện tích cây trồng thông qua khai hoang, phục hóa. Sự phát triển cao su tiểu điền về mặt chất là nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất cao su và gia tăng sự đóng góp của sản xuất cao su tiểu điền cho kinh tế xã hội của địa phương như tăng (Quy mô, DT, NS, SL, số hộ tham gia, Dt trồng mới hàng năm, cơ cấu giống, công nghệ ứng dụng.
Tính tất yếu phát triển cao su tiểu điền Mô hình trồng cao su đại điền ở các công ty và nông trường quốc doanh đã chứng minh được hiệu quả trong một thời gian khá dài. Với lượng vốn đầu tư lớn, quy mô diện tích nhiều, có đội ngũ cán bộ khoa học và công nhân kỹ thuật được đào tạo cơ bản, mô hình cao su quốc doanh thực sự đóng vai trò chủ đạo trong ngành sản xuất cao su nói chung. Tuy vậy mô hình cao su đại điền ở các công ty, các nông trường đã bộc lộ nhiều nhược điểm, đó là bộ máy quản lý cồng kềnh, chi phí quản lý chiếm tỷ trọng cao trong giá thành sản phẩm, mặc dù đã áp dụng các biện pháp quản lý sản xuất như khoán sản phẩm cuối cùng đến người lao động nhưng hiệu quả mang lại chưa tương xứng với tiềm năng của nó. Bên cạnh mô hình cao su đại điền còn tồn tại mô hình cao su tiểu điền, trước năm 1975 cao su tiểu điền chiếm một tỷ lệ rất nhỏ 4,00% tổng diện tích.
Sau năm 1986 khi có chính sách đổi mới của nhà nước về chủ trương giao đất giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, công nhận và khuyến khích kinh tế hộ phát triển. Do đó các hộ nông dân có điều kiện về đất đai đã mạnh dạn đầu tư vay vốn, huy động vốn để trồng cao su. Mô hình này có ưu điểm là tạo điều kiện cho các chủ hộ trồng cao su tận dụng và sử dụng có hiệu quả đất đai, lao động và nguồn vốn hiện có, từ đó giảm chi phí quản lý, tiết kiệm vốn đầu tư do giảm chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo được nhiều việc làm và thu nhập ổn định cho người dân đặc biệt là đối với đại bàn vùng sâu, vùng xa, trung du và miền núi. Hiện nay mô hình này đang được chính phủ quan tâm, được nhiều người dân ủng hộ và tham gia thực hiện.
Như vậy trong giai đoạn hiện nay, phát triển cao su tiểu điền với xu thế phát triển của nền kinh tế, phù hợp với chính sách chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, đặc biệt là ở địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa. Hiệu quả kinh tế, bản chất và phương pháp xác định 1. Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là một phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp với nền sản xuất hàng hóa và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác. 10 Để đánh giá đúng hiệu quả kinh tế cần phân biệt rõ ba phạm trù; Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra. Một phương án hay hoặc một giải pháp kỹ thuật quản lý có hiệu quả kinh tế cao là một phương án đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả đem lại và chi phí sẽ đầu tư. Như vậy, qua phân tích ở trên chúng ta thấy rằng có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế, nhưng điều thống nhất ở bản chất của nó. Tuy nhiên chúng ta cần thấy rằng kết quả đạt được rất phong phú và đa dạng, có thể thu được trên phương diện kinh tế, tài chính, cũng như giảm bớt chênh lệch giàu nghèo, giảm thất nghiệp, cải thiện môi trường sinh thái.
Do đó hình thành nên hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội. Hiệu quả xã hội là tương quan so sánh giữa kết quả xã hội đạt được và tổng chi phí bỏ ra. Hiệu quả kinh tế xã hội là tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được cả về mặt kinh tế và xã hội. Phát triển kinh tế và phát triển xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, mục tiêu để phát triển kinh tế là phát triển xã hội và ngược lại.
Vì thế, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất. Do đó, khi nói đến hiệu quả kinh tế, chúng ta cần phải hiểu trên quan điểm kinh tế xã hội. Qua nội dung đã trình bày ở trên có thể kết luận rằng: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu đề ra. Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm lao động xã hội.
Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật năng suất lao động và quy luật tiết kiệm thời gian. Bản chất của hiệu quả kinh tế là xuất phát từ yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh tế là đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định và ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. 11 Nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với yêu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế nói riêng và phát triển xã hội nói chung. Để đạt được mục tiêu đó cần tận dụng và tiết kiệm nguồn lực hiện có; thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, tiến nhanh vào công nghiệp hóa và hiện đại hóa; phát triển kinh tế với tốc độ nhanh; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động.
Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu biểu hiện kết quả của hoạt động sản xuất, phản ánh mối tương quan giữa kết quả đạt được so với hao phí lao động, vật tư, tài chính trong một chu kỳ sản xuất. Do đó muốn xác định được hiệu quả kinh tế thì ta phải tính toán đầy đủ các lợi ích và chi phí bỏ ra. Chỉ tiêu hiệu quả được tính toán trên cơ sở xác định được các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra. Chẳng hạn, với mục tiêu sản xuất sản phẩm đáp ứng cho nhu cầu của xã hội thì kết quả sử dụng nghiên cứu đánh giá là chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất.
Chi phí bỏ ra trong quá trình hoạt động sản xuất là chi phí cho các yếu tố đầu vào như: đất đai, tiền vốn, lao động, nguyên vật liệu. Tùy theo mục đích nghiên cứu mà chi phí bỏ ra có thể tính toàn bộ hoặc tính riêng cho từng yếu tố. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỘ CAO SU TIỂU ĐIỀN 1. Một số khái niệm 1.
Khái niệm hộ Theo thống kê Liên Hợp Quốc thì “hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và cùng chung một ngân quỹ. Trong một số từ điển người ta định nghĩa về hộ như sau: “ hộ” là tất cả những người sống chung trong một ngôi nhà và nhóm người đó có cùng chung huyết tộc, và người làm công, người cùng ăn chung. Nhóm “hệ thống thế giới” (các đại biểu Wallerstan (1982), Wood (1981, 1982), Smith (1985), Martin và Bellhel (1987) cho rằng: “Hộ là một nhóm người có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh. Hộ là một đơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác”.
12 Các nhà nhân chủng học (Harris 1981, Mackintosh 1979, barrett 1980, Whitehead 1981) đã đề cập mối quan hệ giữa gia đình và nông hộ, trong đó nông hộ là một đơn vị và gia đình là một nhóm người có quan hệ huyết thống. Quan điểm này cho rằng hộ có thể thuộc vào mỗi nhóm tầng lớp xã hội và thừa nhận mối quan hệ giữa các tầng lớp đó cho phép mỗi nhóm hộ có cách thức khác nhau để tiếp cận nguồn lực và sự lựa chọn sinh kế của mỗi nhóm hộ. Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất lao động tiếp theo thông qua quá trình tổ chức nguồn thu nhập nhằm chi tiêu cho cá nhân và đầu tư vào sản xuất. Như vậy từ nhiều khái niệm khác nhau về hộ ta có thể thấy rằng: “Hộ là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế.