Chương 1 - sẽ đưa ra một tổng quan về TCVM bao gồm: Lịch sử phát triển TUVM; Các quan điểm về TVM và TCVM bên vững; Vai trô và đặc điểm của TCVMI; Các nhân tổ ảnh hưởng đến TCVMI, Chương 2 - sẽ khái quát về thực trạng của TCVM Việt Nam bao gẫn tỉnh hình nghèo đối; Hệ thông TCVM Đặc điểm của TCVM Việt Nam; Mô hình tổ chức TCV ME Những thành tựu của TCVM Việt Nam, ty Chương 3 - sẽ phân tích các yếu tổ tác động đến ngành TCVM, những điểm mạnh và điểm yếu của các loại hình tổ chức TCVMI để từ đó làm rõ và phân tích chiều tác động của các yếu tổ này đối với sự phát triển bến vững của TCVMI Việt Nam dựa trên quan điểm về TCVM bên vững là “Cần bằng giữa mực tiều xoá đói giầm nghèo với mác tiêu từ chà và bên vững về tài chữ”, Chương này cũng sẽ đưa ra kết luận và các khuyến nghị, gợi ý vỀ các giải pháp để phát triển bền vững TCVMI Việt Nam, 5, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CUU 5.Các lý thuyết, nguyên lý cơ ban t.ý thuyết về thông tin bất cân xứng Các nghiên cứu tống quan của TUVM được dựa trên lý thuyết vỀ thông tin bất cân xứng, Thông tin bất cân` xứng xẩy ra khi một bến đổi tác nắm giữ thông tin còn bên khác thì không biết đích thực về thông tin ở một mức độ nào đó. Thông tin bãi cần xứng thường xuyến xấy ra trong thị trường tin dung. Sự chọn lọc đối lập xuất hiện khi những người cho vay không thể xác nhận tính chân thật của của người đi vay và từ đây xuất phát sự mạo hiểm của hoạt động cho vay và người cho vay sẽ đưa ra một khung lãi guất cao để bù đấp rủi ro, Như vậy, người vay cũng phải chịu mạo hiểm trọng việc sử đụng vốn đầu tư với một lãi suất cao. Hệ quả là lợi nếu như lợi ích đạt được của một hên cao hơn hơn lợi ích kỳ vọng và chỉ phí của bền bất lợi thông tín cao hơn chí phí kỳ vọng thì kết cục một bên đối tác có thể sẽ rời bỏ thị trường, Lý thuyết về thông tin khang cân xứng đã giải thích tại sao TCVM ít phat triển hơn các tải chính chính thức và cũng ngụ ý rằng lãi suất cho vay của các tổ chức TCVM sẽ cao vì nó bao hầm cả yếu tổ rủi ro, = LẺ thuyết về lợi thế của kinh tế theo quy mô L.ý thuyết về lợi thế của kinh tế theo quy mô (lớn) chợ ngụ ý rằng với một nhập lượng trung bình thấp hơn (bao gầm cá yếu tổ bên trong và bên ngoài) sẽ cho một sản lượng đầu ra lớn hơn.
Trong kinh tế tài chính, lợi thế kính tế theo quy mô thể được hiểu như là khi tiền vay lồn và số lượng người vay tăng thêm thì chí phí trung bình cho một ruón vay sẽ được giảm Qợi thể kinh tế theo quy mô bến ngoài) hoặc là do đổi mới công nghệ, học hỏi kinh nghiệm sẽ làm thấp các chỉ phi quản lý đợi thể kinh tế theo quy mô bến trong). Lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô là sự khuyến khích đến những người cho vay là cho vay những món tiễn vay lớn hơn là những món tiền vay nhỏ và phái cất piám chỉ phí giao dịch. Ngoài ra, đo việc tần đụng những công nghệ mới, học hỏi kính nghiệm, các tổ chức tài chỉnh có thể khai thác lợi thế của kinh tế quy mô lồn nhất là khi ho day ti được chất lượng thường xuyên của người đi vay thông qua cdc co chế giầm sất. Như vậy, cùng với lý thuyết thông tin bất cân xứng, lý thuyết về lợi thé của kinh tế theo quy mô lớn cũng giải thích tại sao những thị rường TCVM ít phát triển hơn thị trường tãi chính chính thức, Và lợi thế của kinh tế quy mô lớn cũng chỉ ra rằng các tổ chức TVM hiện nay đã quan tâm đến việc cải thiện những công nghệ cho vay của họ, Quy biật lợi nhuận biên giảm dân Lý thuyết về quy luật lợi nhuận biên giảm dẫn phần ánh xu hướng lợi nhuận biên sẽ thấp hơn khi doanh nghiện gia tăng thêm vốn để mở rộng quy rnö (giai đoạn lợi nhuận giảm).
Điều này hàm ý rằng, các doanh nghiệp nhỏ đang ở giải đoạn đầu có lợi nhuận tăng khi gia tăng vến dau ty, dường như sẽ ~4 có lợi nhuận biên cao hơn các doanh nghiệp lớn khi vì các doanh nghiệp này + đang Ở giai đoạn có lợi nhuận biên giảm khi gia tăng vốn đầu tư, Đề thị Lợi nhuận biên giảm dẫn Loh ntman ae. ` a tiểm lợi nhuận hiến biến a CỐ 2à LẠ s Lo bất đấu giảm dân Oe ORA Đường lợi N an nhuận biên we v vớ ¿ “ giam dan ¢ Giai dean Giai dgan lợi nhuận lợi nhuận lãng giảm NO Lý thuyết này sẽ giải thích được tại sao, khi người nghèo có cơ hội đầu tử sẽ có thế trá được lãi suấi cao và các tổ chức TCVM có thể đưa ra một khung lãi suất cao hơn lãi suất thương mại trên thị trường, Nguyễn lý chủ yếu của TCVM Bao gồm 11 nguyên lý chủ yếu của Nhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo nhất (CGAP-IA mot tap hop gdm 2§ cơ quan phát triển công cộng và tự nhân cũng làm việc với nhau để mở rộng sự tiếp cận dich vu tai chinh cho người nghèo, còn được gọi là tài chính vị mô) ‹. Người nghéo cần các dịch vụ tài chính khác nhau, không phải chỉ là vốn, Giống như những người khác, người nghèo cần một loạt các dịch vụ tài chính mà các địch vụ đó phải thuận tiện, năng động và nằm trong khả năng chí trả của họ, Tuỳ thuộc vào các tình huống, họ không chỉ muốn có vốn mà còn muốn có địch vụ tiết kiệm, %& TCVM là công cụ mạnh để chiến đấu chống nghêo khổ, Khi người nghèo được tiếp cận tài chính, họ có thể kiếm được nhiều hơn, tạo dựng được tài sẵn và cố chỗ dựa để tự mình chống lại cdc con sốc từ bến ngoài gây nên. y ` Pa 4 x ` a + at » ™ ran ` ¥ Các hộ nghèo sử dụng TCVMI để chuyển tử việc lo sống quá ngày sang lập kể 7ˆ a" hoạch cho lượng lại: họ đầu tự cái thiện định đường, nhà cửa, sức khỏe và học hành.
s TCVM là xây dựng các hệ thống tải chính phục vụ cho người nghèo. Ở hấu hết các nước đang phát triển, người nghèo côn chiếm số lớn trong dân số, trone khi đó họ thường được rất Ít các ngần hằng phục vụ. TCVM thường được xem như một lĩnh vực ngoài lễ-một hoạt động “phát triển”, có thể được các nhà tài trợ, chính phủ hoặc các nhà đầu tự xã hội quan tâm tới, nhưng không phải là một nhân của hệ thống tài chính chính thức của quốc gia. Tuy nhiên, T[VM sẽ chỉ vươn rới nhiều nhất số lượng khách hàng nghèo Khi nó được hòa nhập vào khu vực tải chỉnh.
xẻ TCVM có thể tự trang trải chỉ phí và phải lầm như vậy nếu như nó muốn mô rộng tiếp cân tới số lượng người nghèo. Hầu hết người nghèo không có dịch vụ tài chính tốt đáp ứng nhủ cầu của họ bởi vì không đủ các tổ chức mạnh để cũng cấp những dịch vụ như vậy. Những tổ chức mạnh cln phải thu phi đủ bù đấp các khoản chí của nó. Sự bù đốn đủ chí phí không phải là mục tiêu tự thân, Thực ra, đó là con đường duy nhất để mở rộng quy mô và tác động vượi qua những giới hạn mà các nhà tài trợ có thể tài trợ được, Một tổ chức bên vững về tài chính có thể tiếp tục hoạt động và mở rộng dịch vụ của * ~ a `.+ * z wa nt ^ ^ « * nó trong thời gian lầu đài, Đạt được bến vững cũng có nghĩa là giảm chỉ phí giao địch, cung cấn dịch vụ tốt hơn cho khách bàng và ủm kiếm cách mới để vươn tới nhiều hơn những người nghèo không giao dịch được với ngân hàng, 4 TCVM là xây dựng các tổ chức tài chính địa phương bền vững.
Tài chính vì người nghèo đòi hỏi những tế chức tài chính địa phương vững mạnh cùng cẩn dịch vụ lâu đài. Những tổ chức nãy cần thu húi tiết kiệm trong nước, quay vòng các khoản tiết kiệm đó thành vốn cho vay, và cung cấp các địch vụ khác, Khi những tổ chức địa phương và thị trường vốn trưởng thành, họ sẽ it phụ thuộc vào các nguồn của nhà tài trợ và chính phú, bao gầm cả các ngân hàng phái triển của chính phú, + TCVM không phải húc nào cũng lâ cầu trá lời, TCVM không phải là cổng cụ tốt nhất cho rnọi người hay trong mọi tỉnh hình. Những người quá nghèo và đói, không có thu nhập hoặc phương tiện hoàn trả, cần có những hỗ trợ khác trước khi họ có thể sử dụng tốt vốn vay. Trong rất nhiều trường hợp, những công cụ giẩm nghẽo khổ tốt hơn-vfí dụ nhớ tài trợ nhỏ không hoàn lại, chương trình việc lầm và đào tạo, hoặc cải thiện hạ tầng cơ sở, Khi có thể, các địch vụ nãy nến đi kèm với xây dựng tiết kiệm, *- Lãi suất trần làm tốn thương người nghèo vì đã làm cho họ vất và hơn để nhận được tín dụng, Chỉ phí cung cấp nhiều món vay nhỏ lớn hơn rất nhiều so với việc cung cấp vài món vay lớn, Các nhà cho vay nhà không thể bù đấp chỉ phí trữ khi họ đưa ra một Hải suất trên mức trung bình của ngân hàng.
Sự phát triển của họ sẽ hị giới hạn nếu chỉ dựa vào cáo khoản tiên trợ cấp hiếm hoi và không chắc chấn của các nhà tài trợ và chính phủ. Khi chính phủ điểu tiết lãi suất, họ thường đưa ra mức lãi suất thấp, khí đó tín dung vi tô không thể bù đấp chí phi phí; cần tránh những quy định như vậy, Đẳng 1G thời những nhà cho vay nhỗ cũng không nên đông li suất cao như một cách để buộc người vay trả cho việc hoại động không hiệu quả của tế chức, Vai trò của chính phủ lã tạo điều kiện cho các dịch vụ tãi chính phải triển chứ không cung cấp trực tiếp, Chính phủ quốc gia nên thiết lập chính sách khuyến khích các dịch vụ tải chính vì người nghèo đồng thời bảo vé Hiến gửi.