CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA 1. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN VÀ TÁC DỤNG CỦA BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA 1. Sự cần thiết khách quan Cùng với nền kinh tế đất nước và hệ thống giao thông vân càng phát triển thì tai nạn giao thông cũng ngày càng tăng và mức độ thiệt hại ngày càng lớn. Số xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ ở Việt Nam thể hiện ở bảng 1.1 và tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở Việt giai đoạn 1990 – 2008 thể hiện chi tiết tại bảng 1.
Khi tại nạn giao thông xảy ra, các chủ xe không chỉ thiệt hại mà còn có thể phải đền bù thiệt hại cho các nạn nhân. Chính vì vậy, nghiệp vụ bảo hiểm này đã được triển khai dưới hình thức bắt buộc ở hầu hết các nước trên thế giới. Tác dụng của bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba 1. Đối với chủ xe Nghiệp vụ bảo hiểmày góp phần ổn định tài chính cho chủ xe khi gặp tai nạn giao thông, góp phần xoa dịu làm giảm bớt căng thẳng giữa chủ xe và người bị hại.
Đối với người thứ ba Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thay mặt chủ xe bồi thường nhanh chóng, kip thời bồi thường những thiệt hại cho nạn nhân. Đối với doanh nghiệp bảo hiểm Qua công tác giám định bồi thường các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thống kê được xác suất rủi ro của các phương tiện khi tham gia giao thông. Qua đó, họ sẽ tính được phí bảo hiểm chính xác hơn và có ý kiến đề xuất với các cơ quan có liên quan đề ra các giải pháp đề phòng hạn chế tổn iii thất một cách có hiệu quả hơn. Đối với Nhà nước và xã hội Nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự đã góp phần quản lý số lượng đầu xe đang lưu hành.
hình thành quỹ bảo hiểm xe cơ giới, quỹ này ngoài việc sử dụng bồi thường, nó còn được sử dụng để đề phòng hạn chể tổn thất …., góp phần giảm nhẹ gánh nặng cho Ngân sách nhà nước trong các vụ tai nạn. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA 1. Một số khái niệm có liên quan Trách nhiệm dân sự là hậu quả pháp lý do nhà nước bắt buộc bên vi phạm nghĩa vụ dân sự phải thực hiện đúng các nghĩa vụ dân sự của mình hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của mình gây ra. Trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba là một loại bảo hiểm trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng trong đó quy định đối với chủ xe cơ giới phải đền bù thiệt hại cho người thứ ba do xe cơ giới gây ra trong khi tham gia giao thông.
Đối tượng và phạm vi bảo hiểm 1. Đối tượng bảo hiểm Đối tượng bảo hiểm của loại hình bảo hiểm này lại là phần trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba phát sinh do sự hoạt động và điều khiển xe cơ giới của người lái xe. Người thứ ba được hiểu là người bị thiệt hại về thân thể, tính mạng, tài sản do xe cơ giới gây ra. Phạm vi bảo hiểm: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba là bảo hiểm cho những rủi ro bất ngờ không lường trước được gây tai nạn và làm phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe.
Hạn mức trách nhiệm và phí bảo hiểm iv 1. Hạn mức trách nhiệm: Hạn mức trách nhiệm là giới hạn cao nhất mà doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thay mặt chủ phương tiện bồi thường cho người thứ ba. Phí bảo hiểm: - Khái niệm phí bảo hiểm: Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà chủ xe phải nộp cho nhà bảo hiểm để lập thành một quỹ tiền tệ tập trung đủ lớn để bồi thường thiệt hại xảy ra sự kiện bảo hiểm trong năm nghiệp vụ. - Phương pháp xác định phí bảo hiểm: Phí bảo hiểm được tính dựa trên số liệu thống kê của các năm quá khứ, cho phép xác định mức độ tổn thất bình quân trên đầu phương tiện, từng loại, và cho phép xác định mức chi phí bình quân của nhà bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba 1. Hợp đồng bảo hiểm Giấy chứng nhận bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm cấp là bằng chứng ký kết hợp đồng bảo hiểm giữa chủ xe và doanh nghiệp bảo hiểm. Quyền lợi và nghĩa vụ của chủ xe cơ giới - Quyền lợi của chủ xe cơ giới : Lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm để tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự.Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường nhanh chóng, đầy đủ và kịp thời. - Nghĩa vụ của chủ xe cơ giới: tham gia bảo hiểm, tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn giao thông đường bộ, khi tai nạn giao thông, chủ xe cơ giới phải có trách nhiệm đề phòng, hạn chế tổn thất, phối hợp với doanh nghiệp bảo hiểm, công an và chính quyền địa phương giải quyết.
Quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm - Quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm: thu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, yêu cầu chủ xe cung cấp đầy đủ và trung thực những nội dung. Doanh nghiệp bảo hiểm kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ v giới phù hợp với thực tế triển khai loại hình bảo hiểm này. - Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm: phải bán bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, chi trả bồi thường nhanh chóng và chính xác, phải trích tối thiểu 2% doanh thu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới hàng năm đóng vào Quỹ bảo hiểm xe cơ giới. Quy trình phát triển nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với doanh nghiệp bảo hiểm 1.
Công tác khai thác Khai thác bảo hiểm là khâu đầu tiên của quy trình triển khai bảo hiểm. Nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp bảo hiểm. Công tác đề phòng hạn chế tổn thất Kiểm soát tổn thất bao gồm cả đề phòng và hạn chế tổn thất, cho nên khâu này không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội rất lớn. Công tác giám định, bồi thường - Giám định: là khâu hết sức quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp bảo hiểm, giám định là cơ sở của bồi thường.Giám định tốt đảm bảo cho bồi thường sát với kết quả thực tế, giảm thất thoát trong kinh doanh và nâng cao uy tín.
- Bồi thường tổn thất:là khâu cuối cùng hoàn thiện sản phẩm bảo hiểm. Kết quả bồi thường là một trong những cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Công tác đánh giá kết quả và hiệu quả kinh doanh a. Chỉ tiêu kết quả Doanh thu nghiệp vụ (TC), tổng chi nghiệp vụ (TC), lợi nhuận nghiệp vụ (LN).
Lợi nhuận được tính như sau: LN =TR -TC b. Chỉ tiêu hiệu quả. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được so sánh bằng tỷ số giữa doanh thu hoặc lợi nhuận so với tổng chi phí chi ra trong kỳ của doanh nghiệp vi CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM 2. KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM 2.
Quá trình hình thành và phát triển Ngày 17/12/1964, Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (lúc đó gọi là Công ty Bảo hiểm Việt Nam) gọi tắt là Bảo Việt ra đời. Đây là doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất tại Việt Nam cho đến năm 1994. Vào cuối năm 1993, nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm của Chính phủ được ban hành, tạo cơ sở pháp lý cho việc mở rộng và phát triển bảo hiểm thương mại ở nước ta, thế độc quyền nhà nước của Bảo Việt bị phá vỡ. Từ năm 1994 đến nay, các doanh nghiệp bảo hiểm thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đã lần lượt ra đời như: Bảo Minh, PJICO, … Tsố doanh nghiệp bảo hiểm tham gia thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tính đến thời điểm cuối năm 2008 đã có 26 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Doanh thu phí bảo hiểm không ngừng tăng lên, năm sau cao hơn năm trước.
Doanh thu phí bảo hiểm năm 1994, mới gần 500 tỷ đồng thì sau 10 năm, đến năm 2008 tổng doanh thu bảo hiểm 10. Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tham gia thị trường Năm 1994 trở về trước thì thị trường bảo hiểm chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước duy nhất chi phối toàn bộ thị trường. Năm 2008, thị trường đã 26 doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế. Chi tiết tại Bảng 2.
Nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Nghiệp vụ bảo hiểm này có vai trò quan trọng với các doanh nghiệp vii bảo hiểm, sở dĩ: Doanh thu của nghiệp vụ này đóng góp tỷ trọng cao trong tổng doanh thu của các doanh nghiệp. Doanh thu phí bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới giai đoạn 2004- 2008 chi tiết tại bảng 2.Tiềm năng của thị trường bảo hiểm xe cơ giới là rất lớn. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA TRÊN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM 2. Cơ sở triển khai nghiệp vụ Ở Việt Nam, ngày 10/3/1988 Hội đồng Bộ trường đã ban hành nghị định 30/HĐBT về việc quy định chế độ bảo hiểm bắt buộc đối với trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
Ngày 16 tháng 09 năm 2008 Chính phủ đã ban hành nghị định số 103/2008/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Tình hình khai thác Số lượng xe cơ giới tham gia giao thông ngày càng tăng. Năm 2004, tổng số xe tham gia lưu hành là: 14.816 chiếc trong đó: xe ô tô tham gia giao thông là 774.824 chiếc và số xe mô tô là 13.992 chiếc thì đến năm 2008, tống số xe lưu hành trong toàn quốc là đã tăng gần gấp đôi: 26.502 chiếc, trong đó: xe ô tô là 1.802 chiếc và xe mô tô là: 24.