Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Những công trình nghiên cứu về văn hóa, phát huy vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội 1. Một số công trình nghiên cứu về văn hóa Nếu coi đời sống xã hội như một cơ thể sống thì mỗi lĩnh vực của nó như kinh tế, chính trị, VH là các bộ phận hữu cơ cấu thành, thường xuyên ảnh hưởng, tác động lẫn nhau một cách mạnh mẽ.
Trong đó, VH đặc biệt hơn so với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội vì nó là hiện thân năng lực sáng tạo của con người được thể hiện ra ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định bằng sự thẩm thấu vào đời sống cá nhân, cộng đồng trên mọi phương diện. Vì vậy, muốn thấu đạt những vấn đề khác nhau của đời sống xã hội và nhận diện quy luật vận động, phát triển của cộng đồng cần phải nghiên cứu về VH. Đó cũng chính là lý do dẫn tới có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về VH, đặc biệt là nghiên cứu VH trong mối quan hệ với sự phát triển theo quy mô, cách tiếp cận và phương pháp khác nhau. Đối với các nghiên cứu nước ngoài, trước hết phải kể đến công trình Dưới lăng kính triết học [16] của V.
Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã phân tích cũng như đưa ra những khái luận cơ bản về các cách tiếp cận VH của hầu hết các nhà nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn. Theo ông khuynh hướng chủ yếu trong những nghiên cứu về VH là sử dụng các cách tiếp cận giá trị học, cách tiếp cận hoạt động. Mỗi cách tiếp cận đều có tính hợp lý nhưng cũng có điểm yếu bởi tính bộ phận, do nghiên cứu VH từ một phương diện nào đó nên chưa đạt đến tầm phương pháp luận như triết học đòi hỏi và cũng là nhiệm vụ mà nó phải giải quyết. Dưới lăng kính triết học, theo V.
Davidovich, VH không chỉ là hoạt động mà chủ yếu phải là phương thức, công nghệ hoạt động của con người nhằm phục vụ cho đời sống. Ông nhấn mạnh vai trò chủ thể của con người trong sự hình thành và phát triển VH vì theo ông VH luôn cần người cho, người nhận, người đối thoại, người kế thừa. 8 Nghiên cứu cụ thể về quá trình chuyển biến của VH thông qua sự thay đổi các hình thái tín ngưỡng từ thời kỳ nguyên thủy, công trình Văn hóa nguyên thủy [132] của E. Tylor (1832 - 1917) giúp luận giải những hiện tượng VH trong xã hội nguyên thủy.
Tylor định nghĩa VH là “toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục cùng với những khả năng và tập quán khác của con người với tư cách là một thành viên của xã hội” [132, tr. Tuy nhiên công trình chỉ xem xét VH ở một phân khúc của nó là VH tinh thần, mà chưa đề cập đến cơ sở, điều kiện, nguyên nhân thực sự dẫn đến những khác biệt giữa các nền VH với nhau. Điều này tạo ra rào cản lớn trong việc xác định cái chung, cái đặc thù, cái đơn nhất giữa các cái riêng là những nền nền VH với nhau, bởi trong thực tế chúng hiếm khi độc lập tuyệt đối mà thường có sự giao thoa, tiếp biến. Tài liệu Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa [143] của Ủy ban quốc gia về thập kỷ quốc tế phát triển VH (1992) lại tiếp cận VH với tư cách là một nguồn lực của sự phát triển: “Từ nay trở đi, VH cần coi mình là một nguồn lực bổ sung trực tiếp cho phát triển và ngược lại, phát triển cần thừa nhận VH giữ một vị trí trung tâm, một vai trò điều tiết xã hội” [143, tr.
Từ cách tiếp cận đó, Ủy ban quốc gia về thập kỷ phát triển VH nhấn mạnh việc giữ cân bằng, tránh thiên lệch các yếu tố như KT, VH, xã hội trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Cũng bàn đến mối quan hệ giữa VH và sự phát triển, Tatyanna P. Soubbtina (2005) trong công trình Không chỉ là tăng trưởng kinh tế [91], đã tiếp cận VH dưới góc độ giá trị học và khẳng định VH đóng vai trò gắn kết xã hội, hướng đến sự phát triển bền vững. Nhà nghiên cứu cho rằng những lực lượng khác nhanh chóng bị chiến tranh hay những thay đổi của xã hội làm suy yếu thì ngược lại giá trị VH là yếu tố gắn kết mạnh mẽ.
Joseph Nye (2017) trong tác phẩm Quyền lực mềm [79] đặt VH trong mối quan hệ với sự phát triển và cho rằng “Văn hóa là một loại sức mạnh mềm, không có tính độc quyền mà có tính lan tỏa, tính thừa nhận” [79, tr. Tư tưởng của Joseph Nye đã mở ra một hướng nghiên cứu, tìm hiểu mới về một số khía cạnh tiềm ẩn của sức mạnh mềm trong VH. Ông cho rằng các dạng của sức mạnh mềm bao 9 gồm: VH, các giá trị, các chính sách hợp lý, nền kinh tế hiệu quả, quân đội có nội lực. Và các dạng của sức mạnh cứng bao gồm quân sự, bao vây, cấm vận kinh tế.
Nhưng Nye còn hạn hẹp ở chỗ chưa tìm ra sự khác nhau giữa sức mạnh mềm nói chung, sức mạnh mềm VH nói riêng với sức mạnh cứng; chưa tìm ra cơ chế để chuyển từ tài nguyên VH thành sức mạnh mềm VH. Friedman (2021) trong tác phẩm Chiếc Lexus và cây ôliu [29] đã đưa ra những quan niệm về VH, bản sắc VH trong bối cảnh toàn cầu hóa. Trong đó, VH cũng được quan niệm như một yếu tố nội sinh, gốc rễ quan trọng cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Ông quan niệm VH như những giá trị, “ADN” của mỗi dân tộc, mất đi những giá trị đó thì các dân tộc sẽ không thể nào phát triển lành mạnh, bền vững.
Do đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa, theo ông mỗi quốc gia bên cạnh việc tiếp xúc, tiếp thu những yếu tố hiện đại để phát triển thì cần gìn giữ được những giá trị VH gốc rễ của dân tộc mình. Trong nghiên cứu này, Thomas L. Friedman đã gợi mở một số giải pháp để gìn giữ và phát huy VH truyền thống của mỗi dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa. Jaded Kemling (2020) trong nghiên cứu Toward a cultural phylosophy: Five form of phylosophy of culture (Hướng tới một triết lý văn hóa: Năm hình thức triết lý văn hóa) [171] trong tạp chí Triết học VH - Edios đã đưa ra năm quan niệm triết học khác nhau về VH.
Sau cùng, tác giả cho rằng cần quan niệm VH là tất cả những gì con người sáng tạo ra có mục đích, vì sự phát triển chứ không hẳn chỉ để duy trì sự tồn tại. Tác giả nhấn mạnh đặc tính sáng tạo của con người trong VH, đó là những sáng tạo hướng tới tăng trưởng, biến đổi, hướng tới tương lai và không đơn thuần chỉ vì để tồn tại cho thực tại. Ở Việt Nam, nghiên cứu về VH cũng “muôn hình vạn trạng”. Trong phạm vi của luận án, Nghiên cứu sinh chỉ đề cập đến một số công trình rất tiêu biểu nghiên cứu về VH trong mối quan hệ với sự phát triển: Cố thủ tưởng Phạm Văn Đồng (1994) trong tác phẩm Văn hóa và đổi mới [27] quan niệm VH là động lực tinh thần cho sự trường tồn và vươn lên của dân tộc.
Yếu tố cốt lõi của VH, theo cố Thủ tướng, được thẩm thấu và nằm trong tinh thần của con người bao gồm tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ và tài 10 năng, sức nhạy cảm tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ bản sắc cộng đồng, sức đề kháng và sức chiến đấu. Công trình Vấn đề văn hóa và phát triển [124] của Hoàng Trinh (1996) đã nêu ra quan niệm về VH trong sự phát triển của xã hội: “Văn hóa không phải là cái bánh xe như quan niệm thô thiển đã từng lưu hành ở nhiều nước, mà nó thực sự là toàn bộ những điều kiện sống, những giá trị vật chất và tinh thần, những tư tưởng và tri thức cần thiết cho sự phát triển và mở mang của con người và của xã hội” [124, tr. Từ đó tác giả nêu ra mối quan hệ giữa VH và những vấn đề đáng được lưu tâm trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay như mối quan hệ giữa văn hoá và công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mối quan hệ giữa VH và bảo vệ môi trường sinh thái, VH và sự phát triển nông thôn hiện nay. Nghiên cứu VH dân tộc nhưng từ cốt yếu của vấn đề giá trị VH phải kể đến công trình Giá trị truyền thống trước thách thức của toàn cầu hóa [11] của hai tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên (2002).
Các tác giả cho rằng giá trị truyền thống là yếu tố cốt lõi nhất trong VH: “Truyền thống là những yếu tố của di tồn VH, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục, tập quán, thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài” [11, tr. Các tác giả nhìn nhận vấn đề VH truyền thống một cách rất biện chứng và khẳng định không phải mọi yếu tố truyền thống đều vượt qua được sự thẩm định của thời gian. Những yếu tố nào cản trở sự phát triển, không phù hợp sẽ bị loại bỏ. Những yếu tố nào phù hợp sẽ tồn tại được và phát huy tác dụng.
Nhưng trong quá trình thẩm định ấy, vai trò của nhân tố chủ quan nhằm bảo vệ những giá trị chân chính và ngăn chặn các phản giá trị rất quan trọng. Tác giả Nguyễn Huy Hoàng (2002) trong cuốn Mấy vấn đề triết học văn hóa [44], đã bàn đến mối quan hệ giữa triết học và văn hóa. Cuốn sách đã chỉ ra đối tượng nghiên cứu của triết học văn hóa, phạm vi nghiên cứu của nó và những vấn đề cơ bản về lịch sử triết học văn hóa thế giới, về sự đối thoại giữa các nền văn hóa và sự xung đột văn hóa trong xã hội hiện đại. Những phân tích của tác giả cho thấy, 11 suy đến cùng nghiên cứu về văn hóa là nghiên cứu bản chất sáng tạo của con người, nghiên cứu hoạt động của con người.