Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước từ điểm xuất phát là một nền kinh tế nông nghiệp còn phổ biến sản xuất nhỏ, cơ sở vật chất - kỹ thuật lạc hậu và chịu sự tàn phá nặng nề của nhiều năm chiến tranh. Ruộng đất canh tác bình quân đầu người thuộc diện thấp nhất thế giới, tài nguyên khoáng sản đa dạng nhưng trữ lượng không lớn và phân tán. Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa và cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển nhanh chóng, Việt Nam đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế và công nghệ nếu không phát huy hiệu quả mọi nguồn lực, trong đó nguồn lực con người giữ vị trí trung tâm. Thực tiễn gần hai mươi năm Đổi mới cho thấy, dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương xây dựng con người mới, lực lượng lao động Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế về thể lực, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tác phong công nghiệp, chưa đáp ứng kịp yêu cầu của nền sản xuất hiện đại.

Trước yêu cầu cấp bách của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Giáo dục Chính trị với đề tài: "Phát huy vai trò của nhân tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay" dưới sự hướng dẫn của Th.S Lê Văn Dy tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh (tháng 04/2005).

Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu:

  • Góp phần giải thích lý luận về nhân tố con người trong lực lượng sản xuất.
  • Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nhân tố con người ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, khóa luận thực hiện bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Trình bày khái niệm nhân tố con người dưới góc độ triết học và xã hội học.
  2. Phân tích vai trò quyết định của nhân tố con người trong cấu trúc lực lượng sản xuất.
  3. Đánh giá thực trạng bao gồm những ưu thế, hạn chế và xu hướng phát triển của con người lao động Việt Nam.
  4. Đề xuất một số phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nhân tố con người phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
  • Đối tượng nghiên cứu: Nhân tố con người với tư cách là bộ phận cấu thành giữ vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất.
  • Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng con người lao động Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với các mốc dữ liệu khảo sát tập trung từ sau năm 1986 đến giai đoạn 2000 - 2005.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược "trồng người"; các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện qua Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, lần thứ IX và Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin.

Khóa luận kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu lý luận đi trước, tiêu biểu như:

  • Vấn đề xây dựng con người mới (Phạm Như Cương chủ biên, NXB Khoa học Xã hội, 1978).
  • Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam (Hồ Anh Dũng, NXB Khoa học Xã hội, 2002).
  • Một số vấn đề về triết học - con người - xã hội (Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, 2003).

Các phương pháp nghiên cứu được tác giả phối hợp sử dụng bao gồm:

  • Phương pháp kết hợp lôgíc và lịch sử: Xem xét nhân tố con người trong sự vận động lịch sử của xã hội Việt Nam từ truyền thống nông nghiệp cổ truyền qua thời kỳ bao cấp đến thời kỳ Đổi mới.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Luận giải các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, phân tích các chỉ số dân số, giáo dục, thể lực và trí lực của người lao động.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu kinh nghiệm phát triển nhân tố con người của các quốc gia (Hoa Kỳ, Nhật Bản) và so sánh các mốc số liệu thống kê giáo dục, lao động của Việt Nam giữa các giai đoạn.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ cuộc điều tra dân số ngày 01/07/2002 của Tổng cục Thống kê, báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (giai đoạn năm học 1995-1996 đến 2000-2001), và các tài liệu nghiên cứu xã hội học công bố đến năm 2004.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất

Chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận triết học về khái niệm con người, nhân tố con người và cấu trúc lực lượng sản xuất.

1. Khái niệm nhân tố con người: Tác giả phân biệt khái niệm "con người" (thực thể tự nhiên - xã hội toàn vẹn) với "nhân tố con người" (con người được xem xét với tư cách là chủ thể hoạt động thực tiễn nhằm cải biến tự nhiên và xã hội). Nhân tố con người bao gồm ba nội dung cơ bản:

  • Là nhân tố xã hội thể hiện sức mạnh tổng hợp của chủ thể người trong quan hệ với tự nhiên và xã hội.
  • Bao gồm các tiêu chí về số lượng và chất lượng lao động được hiện thực hóa trong các hình thái tổ chức lao động xã hội.
  • Thể hiện qua nhân cách, chức năng xã hội, năng lực chuyên môn, thái độ lao động, ý thức chính trị và chuẩn mực đạo đức.

2. Nội dung cơ bản của khái niệm lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất là thể thống nhất hữu cơ giữa tư liệu sản xuất (bao gồm tư liệu lao động, công cụ lao động, đối tượng lao động) và người lao động sử dụng các tư liệu đó để tạo ra của cải vật chất. Lực lượng sản xuất phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và trình độ chinh phục tự nhiên của xã hội qua từng giai đoạn lịch sử.

3. Người lao động là nhân tố quyết định trong lực lượng sản xuất:

  • Vai trò chủ thể sáng tạo: Tư liệu lao động và công cụ lao động chỉ là sản phẩm vật hóa từ trí tuệ con người ("khí quan nhân tạo"). Máy móc dù hiện đại đến đâu cũng không thể tự vận hành nếu thiếu sự điều khiển, can thiệp và gán mục đích sử dụng của con người.
  • Mối quan hệ giữa khoa học và con người: Khoa học kỹ thuật đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp (theo dự báo của C. Mác), tuy nhiên khoa học không tồn tại độc lập mà bắt nguồn từ thực tiễn sản xuất và phục vụ nhu cầu của con người.
  • Cơ sở thực tiễn quốc tế: Tác giả dẫn chứng sự phát triển nhanh chóng của Hoa Kỳ nhờ thu hút nhân tài khoa học toàn cầu và thành tựu kinh tế của Nhật Bản thông qua mô hình kết hợp "Kỹ thuật phương Tây + Tinh thần Nhật Bản", đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển.

Chương 2: Phát huy nhân tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 phân tích bức tranh thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam thời kỳ Đổi mới và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển nhân tố con người.

1. Thực trạng vấn đề phát huy nhân tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam:

Về mặt ưu thế:

  • Quy mô và cơ cấu dân số: Theo số liệu điều tra ngày 01/07/2002, dân số Việt Nam đạt 79,93 triệu người (đứng thứ 12 trên thế giới), trong đó lực lượng trong độ tuổi lao động chiếm hơn 48,5 triệu người, tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 3,2% - 3,5%. Dự báo dân số năm 2005 đạt 83 triệu người (lao động trên 51 triệu) và năm 2010 đạt 88 triệu người (lao động trên 57 triệu).
  • Phẩm chất và năng lực trí tuệ: Người lao động có truyền thống yêu nước, cần cù, kiên trì, khéo léo trong thủ công mỹ nghệ. Học sinh, sinh viên và trí thức Việt Nam đạt nhiều thành tích quốc tế (ĐH Bách Khoa TP.HCM vô địch Robocon Châu Á 2004; giải thưởng Meguro tại Nhật Bản; sinh viên trúng tuyển ĐH Princeton với điểm tuyệt đối 42/42; chuyên gia công nghệ tại Mỹ nắm giữ 20 bằng phát minh).
  • Trình độ dân trí và chuyên môn kỹ thuật: Năm 2000, tỷ lệ biết chữ đạt 96,42%; tốt nghiệp THCS chiếm 32,7%; tốt nghiệp THPT chiếm 17,58%; số năm đi học trung bình đạt 7,3 năm. Cả nước hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Đội ngũ trí thức có khoảng 1,3 triệu người tốt nghiệp đại học, cao đẳng; 10.000 thạc sĩ; hơn 12.000 tiến sĩ; hơn 600 tiến sĩ khoa học và khoảng 10 vạn trí thức Việt kiều.
  • Khả năng thích ứng công nghệ: Người lao động từng bước tiếp cận công nghệ cao. Ngày 26/02/2001, Tổng công ty Điện tử và Tin học Việt Nam cho ra mắt Hệ điều hành Linux 1.0 thuần Việt; phong trào ứng dụng công nghệ thông tin phát triển theo tinh thần Chỉ thị 58-CT/TW.
  • Thể lực: Chiều cao trung bình của người lao động tăng hơn 3 cm sau 20 năm (nam thanh niên đạt 163 cm, nữ đạt 153 cm).

Về mặt hạn chế:

  • Tàn dư của nền sản xuất nhỏ và công xã nông thôn: Thói quen làm ăn manh mún, tùy tiện, "cò con", tâm lý cào bằng ("xấu đều hơn tốt lỏi"), bảo thủ, giữ bí quyết gia truyền làm thui chột nghề thủ công, tư tưởng "phép vua thua lệ làng" kìm hãm tính chủ động cá nhân.
  • Ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng phong kiến và tôn giáo: Nho giáo với tư tưởng trọng danh khinh thực, coi nhẹ lao động chân tay và thương nghiệp; Phật giáo với khuynh hướng an phận, diệt dục; Đạo giáo với tập tục mê tín dị đoan làm giảm ý chí phấn đấu vươn lên.
  • Hệ quả của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp: Thói quen ỷ lại vào tập thể và Nhà nước, thiếu tư duy kinh tế thị trường, ngại cạnh tranh.
  • Hạn chế về thể lực và dinh dưỡng: Bình quân năng lượng ăn uống toàn quốc dưới 2.000 kcal/người/ngày (giai đoạn trước 1990 ở nông thôn có 44% dân số chỉ đạt mức 1.500 kcal/ngày). Tỷ lệ người lớn có sức khỏe yếu chiếm 14% - 21,5%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng lên tới 40%.
  • Bất cập về chất lượng chuyên môn: Năm 2000, chỉ có 20% lao động qua đào tạo (đào tạo nghề chiếm 13,4%); nguy cơ tái mù chữ vẫn xuất hiện; thiếu đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề và chuyên gia đầu ngành.

Bảng tổng hợp một số chỉ tiêu phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2000 - 2002 theo dữ liệu khóa luận:

Chỉ tiêu thống kê Giá trị ghi nhận trong khóa luận
Dân số toàn quốc (01/07/2002) 79,93 triệu người (dự báo 83 triệu năm 2005)
Lực lượng trong độ tuổi lao động (2002) > 48,5 triệu người (dự báo 51 triệu năm 2005)
Tỷ lệ người biết chữ toàn quốc (2000) 96,42%
Tỷ lệ dân số tốt nghiệp THCS / THPT (2000) 32,7% / 17,58%
Số năm đi học trung bình của dân cư (2000) 7,3 năm
Tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật (2000) 15,53%
Tỷ lệ lao động qua đào tạo / đào tạo nghề (2000) 20,0% / 13,4%
Số lượng cử nhân, kỹ sư CĐ-ĐH (2000) Khoảng 1,3 triệu người
Số lượng Thạc sĩ / Tiến sĩ / TSKH (2000) 10.000 người / > 12.000 người / > 600 người
Trí thức Việt kiều tại nước ngoài (2000) Khoảng 10 vạn người
Tỷ lệ người trưởng thành có sức khỏe yếu 14% - 21,5%
Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi 40%

2. Một số giải pháp chủ yếu phát huy nhân tố con người trong lực lượng sản xuất:

  • Quan tâm đúng mức tới nhu cầu và lợi ích của người lao động: Coi lợi ích kinh tế là động lực trực tiếp, mạnh mẽ nhất thúc đẩy con người hành động. Kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội; xóa bỏ cơ chế phân phối bình quân, bảo đảm người lao động được hưởng thụ xứng đáng với kết quả cống hiến.
  • Xây dựng môi trường xã hội thuận lợi: Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách kinh tế nhằm tạo hành lang an toàn cho sản xuất kinh doanh; thực hiện các chính sách khuyến khích như ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn vay, khen thưởng thỏa đáng; phát huy dân chủ cơ sở, đẩy mạnh công tác tư tưởng, tuyên truyền chống tham nhũng, tạo dư luận xã hội lành mạnh nhằm đẩy lùi các hủ tục lạc hậu.
  • Đổi mới và tăng cường chiến lược giáo dục - đào tạo: Xem giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu. Chuyển dịch từ phương thức đào tạo đồng loạt sang đa dạng hóa loại hình và chuyên sâu; đổi mới phương pháp giảng dạy từ truyền thụ một chiều, nhồi nhét sang phương pháp gợi mở, rèn luyện tư duy sáng tạo; đa dạng hóa các kênh đào tạo (công lập, dân lập, tư thục, liên kết quốc tế); tăng quyền tự chủ cho các trường đại học và cải thiện chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ giáo viên.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa lý luận: Khóa luận làm sáng tỏ bản chất của phạm trù "nhân tố con người" trong chủ nghĩa duy vật lịch sử, phân định ranh giới giữa con người với tư cách thực thể tự nhiên - xã hội và con người với tư cách lực lượng sản xuất trực tiếp.
  • Phân tích thực trạng có căn cứ số liệu: Cung cấp bức tranh đa chiều về nguồn nhân lực Việt Nam đầu thế kỷ XXI thông qua các số liệu thống kê về nhân khẩu học, tỷ lệ đào tạo nghề, tỷ lệ phổ cập học vấn và chỉ số thể lực.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ: Kết hợp ba nhóm đòn bẩy căn bản: đòn bẩy lợi ích kinh tế, đòn bẩy thể chế - môi trường xã hội, và đòn bẩy giáo dục - đào tạo nhằm giải phóng năng lực sáng tạo của người lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận tiếp cận vấn đề chủ yếu từ góc độ lý luận triết học chính trị và sử dụng nguồn số liệu thống kê thứ cấp (chưa tiến hành các cuộc điều tra xã hội học thực nghiệm chuyên sâu hay khảo sát mẫu định lượng riêng). Hệ thống số liệu phản ánh thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam ở thời điểm năm 2000 - 2005.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu tác động của nền kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động; khảo sát định lượng nhu cầu và động lực làm việc của các nhóm lao động đặc thù (lao động nông nghiệp chuyển đổi, lao động công nghệ cao).

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, giảng viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị, Triết học Mác - Lênin, Kinh tế Chính trị và Xã hội học trong việc nghiên cứu phạm trù con người và lực lượng sản xuất.
  • Người nghiên cứu về lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn đầu những năm 2000, cung cấp nguồn dữ liệu đối chiếu về thực trạng dân số, trình độ học vấn và thể lực của lao động Việt Nam thời kỳ đầu công nghiệp hóa.
  • Cán bộ quản lý nhân sự, hoạch định chính sách giáo dục và đào tạo nghề tham khảo các luận điểm về đòn bẩy lợi ích và đổi mới phương pháp giáo dục phát triển tư duy sáng tạo.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo khóa luận, điểm khác biệt giữa khái niệm "con người" và "nhân tố con người" là gì?
Khái niệm "con người" phản ánh một thực thể tự nhiên - xã hội toàn vẹn với đầy đủ tính đa dạng về tâm lý, thể chất và các mối quan hệ xã hội. Trong khi đó, "nhân tố con người" là phạm trù triết học - xã hội chỉ con người khi tham gia vào hoạt động thực tiễn với tư cách chủ thể có ý thức, nằm trong mối quan hệ tác động qua lại với các yếu tố khác nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.

2. Khóa luận nêu những con số nào về thực trạng trình độ chuyên môn của lao động Việt Nam năm 2000?
Năm 2000, tỷ lệ người lao động có chuyên môn kỹ thuật là 15,53% (công nhân kỹ thuật 5,4%, sơ cấp 1,41%, trung cấp 4,83%, cao đẳng và đại học 3,89%). Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 20%, trong đó đào tạo nghề chiếm 13,4%. Cả nước có khoảng 1,3 triệu người có trình độ đại học, cao đẳng; 10.000 thạc sĩ; hơn 12.000 tiến sĩ và hơn 600 tiến sĩ khoa học.

3. Tác giả chỉ ra những nguyên nhân lịch sử - xã hội nào tạo nên thói quen ỷ lại, bảo thủ của người lao động Việt Nam?
Tác giả chỉ ra ba nguyên nhân chính: (1) Sự tồn tại dai dẳng của mô hình công xã nông thôn dựa trên nền sản xuất nhỏ tự cấp tự túc; (2) Ảnh hưởng tiêu cực của các hệ tư tưởng phong kiến phương Đông như Nho giáo (trọng danh khinh thực, coi nhẹ thương nghiệp), Phật giáo (diệt dục, an phận) và Đạo giáo (mê tín, tin vào số mệnh); (3) Việc áp dụng và duy trì quá lâu cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp và bình quân chủ nghĩa cùng tâm lý trông chờ vào viện trợ.

4. Mối quan hệ giữa khoa học - kỹ thuật hiện đại và nhân tố con người được giải thích như thế nào?
Dù khoa học kỹ thuật hiện đại và công nghệ tin học phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò là lực lượng sản xuất trực tiếp, khoa học không thể trở thành lực lượng độc lập thay thế con người. Khoa học là sản phẩm do con người sáng tạo ra từ nhu cầu thực tiễn, do con người vận hành và phục vụ mục đích phát triển của con người.

5. Những giải pháp trọng tâm nào về giáo dục - đào tạo được tác giả đề xuất?
Khóa luận đề xuất: Chuyển từ đào tạo đồng loạt sang đa dạng hóa và chuyên sâu; đổi mới phương pháp dạy học từ nhồi nhét ghi nhớ sang gợi mở, rèn luyện tư duy phản biện và sáng tạo; giảm môn học bắt buộc, tăng môn tự chọn; trao quyền tự chủ cho các trường đại học; kết hợp gửi người ra nước ngoài đào tạo với thu hút chuyên gia giỏi; thực hiện chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với đội ngũ giáo viên.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò quyết định của nhân tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XXI. Thông qua việc phân tích toàn diện các mặt ưu thế về trí tuệ, truyền thống văn hóa cùng những rào cản về thể lực, trình độ chuyên môn và tập quán sản xuất nhỏ, tác giả khẳng định phát triển nguồn lực con người là con đường tất yếu để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các nhóm giải pháp về bảo đảm lợi ích kinh tế, kiến tạo môi trường xã hội dân chủ và đổi mới căn bản chiến lược giáo dục - đào tạo được đề xuất có tính nhất quán cao với định hướng phát triển đất nước.