mở đầu và kết luận ra, khóa luận được chia làm 2 chương và 4 tiết lồn. SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hương 4 Khod luận tốt nghiệp GVHD: Th.5 Lễ Van Dy PHAN NOI DUNG "hưững | NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG LUC LUGNG SAN Trên bình diện lý luận chung, trên thế gidi hiện nay đang tổn tại những quan niệm khác nhau về nhãn tố con người, Với những cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã có quan niệm về nhân tố con người khác nhau. Ở nước ta, khái niệm nhân tố con người cũng đã được các nhà nghiên cửu quan tâm và đã đưa ra một số khái niệm: "Nhân tổ con người là tổng hợp tất cả những phẩm chất , tri thức, khả năng và năng lực của con người cùng mọi hoạt động sáng tạo của họ đã, đang và sẽ được xã hội sử dụng vì lợi ích của sự phat triển con người cũng như hoàn thiện các điểu kiện sống, điều kiện lao động của con người” [34: 30] "Nhãn tổ con người là toàn bộ những dấu hiện riêng có những yếu tố, những mặt. nói lên vai trò của con người như là chủ thể hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội” [21; 110].
“Nhân tố con người là một phạm trù triết học xã hội (gắn lién với thực tiễn) diễn tả vai trò, vị trí và những ảnh hưởng thực tế của con người trong họat động thực tiễn nhằm cải biến thế giới hiện thực, déng thời tự biểu hiện, tự khẳng định những sức mạnh tiém tang của bản thần con người trong quá trình phát triển hoàn thiện bản chất xã hội của nó" [2; 67]. SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hương 5 Khod luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Văn D *Nhân tố con người là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất và tinh than, dao đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội. tạo thành năng lực của con người và của cộng đẳng người nang lực đó khi được sử dụng ,phát huy sẽ góp phan thúc đẩy sự phát triển của xã hội" (12; 388]. Khái niệm nhãn tố con người là một phạm trù lịch sử xã hội, nó biến đổi theo sự biến động của các điều kiện lịch sử qua các thời đại khác nhau.
Đây là một khái niệm rộng bao gốm những yếu tố, những tiêu chí, nói lên vai trò xã hội của con người, nhân cách con người, Các khái niệm trên đều đã nêu bật được vai trò riêng của nhân tố con người thông qua hoạt động đã có ảnh hưởng thực tế vào việc cải hiến thé giới hiện thực và phẩn nào nói lên sức mạnh tiểm tầng của nhân tố con người được bộc lộ và khẳng định trong quá trình thể hiện và hoàn thiện bản chất xã hội của nó. Tuy nhiên chúng ta cẩn chỉ ra những nội dung co bản của nó đó là: * Thứ nhất: Nhãn tố con người là một nhãn tố xã hội thể hiện sức mạnh tổng hợp của chủ thể người trong quan hệ với khách thể tự nhiên và xã hội mà hoạt đông thực tiễn của nó đem lại sự phát triển xã hội. * Thứ hai: Nội dung cấu thành của nhãn tố con người bao gồm những tiêu chí về số lượng và chất lượng nói lên khả năng của con người, của cộng đồng người trong môi trường xã hội, lịch sử xác định, cần phải khai thác trong quá trình cải tạo và xây dựng xã hội. Đó trước hết và chủ yếu là số lượng và chất lượng lao động của con người được thể hiện ra trong những hình thái tổ chức lao động xã hội hợp lý nhất, đảm bảo tính hữu ích do sự phát triển của cá thể lẫn cộng đồng.
* Thứ ba: Những tiêu chí về nhân cách, về chức năng xã hội của con người. Những tiêu chi này nói lên khả năng sáng tạo của con người trong hệ thống các quan hệ xã hội, giá trị và trình độ phát triển của con người bao gồm cả năng lực chuyên mon, thái độ lao động, ý thức xã hội chính trị, những giá trị và chuẩn mực đạu đức, SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hương 6 Khoá luận tốtnghiệp _ GVHD: Th.§ Lê Văn Dy Những nội dung trên đây của nhân t6 con người có quan hệ hiện chứng với nhau. Việc phát huy nhân tổ con người trong cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay cần phải tính đến một cách đẩy đủ những noi dung đó, trên cơ sở đó ma hình thành chiến lược về con người trong qua trình cách mạng.
Những khiếm khuyết của công cuộc xây dựng đất nước ta trong thời gian qua, ở mức độ khác nhau đều có nguyên nhẫn từ việc không tính đến một cách day đủ, không khai thác và phát huy được những nội dung nêu trên của nhân tổ con người. Do vậy trên thực tế đã không phát huy được đẩy đủ và có hiệu quả vai trò tích cực của nhãn tổ con người làm cho xã hội thiếu hụt động lực can thiết của sự phát triển. Có thể nói, khái niệm nhân tố con người không hoàn toàn đẳng nhất với khái niệm con người, mặc dù trong cơ sở bản chất của mình, nó gắn bó chặt chẽ với nhau, Trên nhiều sách báo hiện nay, con người được xem là một thức thể tự nó với tất cả tính đa dạng hiện thực: thể chất, trí tuệ, nhu cẩu, lợi ích, tính cách, tình cảm, tam lý, thói quen. Mặt khác, con người được xem như một thực thể xã hội trong tính toàn vẹn của nó với tất cả những quan hệ xã hội muốn vẻ của họ .Khi con người được xem xét như một thực thể hoạt động nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tế khác nhằm cải biến tự nhiên và xã hội thì đó chính là nhãn tố con người.
Nó phân biệt với các nhân tố khác, như nhân tố kinh tế, nhân tố kỹ thuật. Nhân tế con người có tinh chất xã hội- lịch sử, nó là tểm năng, năng lực, nguồn lực của sự phát triển, nó đối diện với nhân tố khác và cấu thành nội dung hiện thực của đời sống xã hội. Cho nên cẩn quan tâm đến những dấu hiệu cấu thành sự phát triển của con người như tâm — sinh lý, nhu cẩu, lợi ích. Nhân tố con người không chi được xét với tư cách là cộng đẳng.Nó thể hiện mối liên hệ giữa sức mạnh cá nhãn và cộng đẳng.
Do vậy, muốn phát huy được nhãn tổ con người phải có chính sách tác động vào cả cá nhân va cộng đẳng. Nhân tố con người còn được biểu hiện ở các sức mạnh truyền thống lịch sử văn hoá dân tộc, có ảnh hưởng tới sự hình thành và trưởng SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hương 7 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lê Văn Dy thành của con người xã hội. Điều này đã nói lên rằng, khi chúng ta để ra những chính sách xã hội phải có tác dụng cải biển tốt hơn hoàn cảnh và hiện trạng của con người trong hiển tại và thúc đẩy sự phát triển của con người dap ứng những nhu cầu * đặt ra trong tương lai của nó. Nhẫn tố con người còn bao gồm cả khía cạnh dan tộc, giai cấp và quốc tế, cho nên xã hội phải coi trọng phát triển văn hoá để phát triển con người.
Khái niệm nhân tốcon người là sự phát triển sắng tạo quan niệm của chủ nghĩa Mác về vấn để con người với tư cách là người sáng tạo có ý thức, là chủ thể sắng tạo ra lịch sử. Mặt hoạt động của nhân tố con người, đó là cơ sở quyết định mọi đặc trưng và thuộc tính của nó. Mặt hoạt động của con người với tích cách là phương thức quan hệ đặc thù của con người với thế giới xung quanh. Với tính cách là hoạt động của con người nhằm sáng tạo ra của cải và các giá trị vật chất tỉnh thần, con người chủ thể của hoạt động nó có vai trò và ý nghĩa quyết định đổi với sự sáng tạo lịch sử và phát triển lịch sử.
Triết học Mác-Lênin khẳng định: Sự vận động và biến thiên của lịch sử xét đến cùng là do căn nguyên kinh tế, Nếu như sự phát triển xã hội là dựa trên sự thay thé hợp quy luật của các phương thức sản xuất thì không thể không tính đến vai trồ và ảnh hưởng của con người gắn lién với hoạt động sản xuất của nó. Quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin đã thừa nhận một cách dứt khoát vai trò của quần chúng nhân dẫn và cá nhân trong lịch sử: “Con người sáng tạo ra lịch sử của mình. Song vai trò quyết định đối với sự phát triển xã hội là ở một số cá nhân đặc biệt hay quần chúng nhãn dân đông dao"[11, 620]. Vì lẽ đó, khi phân tích những nội dung có trong khái niệm “nhân tố con người" cần phải xác lập cơ sở phương pháp luận của nó, bao hàm những nguyên tắc như: Xét nhân tố con người trong tính hiện thực và cụ thể của nó, trong những điều kiện kinh tế xã hội xác định.
Điều đỏ có nghĩa là xét con người với tư cách là những SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hương 4 Khod luận tốt nghiệp GVHD: Th.§ Lễ Văn D ca nhân, cá thể sinh động. Đẳng thời cũng khảo sát nhân tố con người như những tập the, cộng đồng người. Xét nhân tố con người với tư cách là người lao động được giải phóng và là chủ thể của quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Đồng thời con người là khách thể của các quá trình quản lý, đối tượng của các chính sách phát triển kinh tể xã hội.
Xem xét nhân tố con người không chỉ đơn thuần từ góc độ kinh tế như nhu cầu lợi ích vat chất mà còn tính đến các yếu tổ tâm lý, đạo đức, văn hoá, những định hướng giá trị của cá nhân, những mối liên hệ giữa cá nhân, tập thể và xã hội. Du đó việc nhận thức một cách toàn diện những nội dung của quan niệm nhân tế con người có liên quan trực tiếp đến việc xây dựng một tổng hợp những diéu kiện, biện pháp thực tiễn mà quá trình quản lý kinh tế và xã hội phải thực hiện nhằm nắng cao vai trò nhân tố con người. Nội dung cơ bản của khái niệm lực lượng sản xuất Ngày nay, hơn lúc nào hết, sẽ không có bất cứ một sự tiến bộ và phát triển nào trong xã hội nếu không có quan điểm và chính sách đúng đắn để phát huy nhân tổ con người. Công việc nghiên cứu, bổi dưỡng, đào tạo, sử dụng đúng đắn nhân tổ con người lại càng bức xúc khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hod, hiện đại hoá đất nước.