phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì đề tài gồm có 3 chƣơng Chƣơng 1. Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài Chƣơng 2. Thực trạng của việc phát huy tính tích cực nhận thức cho trẻ 5- 6 tuổi trƣờng mẫu giáo Phan Triêm- Điện Bàn thông qua hoạt động khám phá khoa học. Biện pháp và thực nghiệm một số biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học 5 PHẦN 2.
NỘI DUNG hƣơng 1. Ơ SỞ LÝ LUẬN L ÊN QU N Đ N ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm liên quan 1. Tính tích cực Theo từ điển tiếng Việt, tính tích cực gồm 3 nghĩa: - Một là, có nghĩa, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển, trái với tiêu cực.
- Hai là, tính chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra những biến đổi theo phƣơng hƣớng phát triển - Ba là, hăng hái nhiệt tình với nhiệm vụ, với công việc. Tính tích cực theo quan điểm duy vật biện chứng: C. ênin: “tính tích cực có nguồn gốc từ yếu tố bên trong và yếu tố ngoài, trong đó yếu tố bên trong giữ vai trò quyết định. Tính tích cực chính là thái độ cải tạo và biến đổi khách thể của chủ thể, nó có vai trò quan trọng trong việc tạo ra thế giới hiện thực khách quan, biến đổi và cải tạo nó”.
Các nhà Tâm lý – giáo dục lại xem xét tính tích cực ở những khía cạnh khác nhau, đó là: Tính tích cực gắn liền với hành động, P.Ganperin cho rằng: “tính tích cực đƣợc thể hiện trong các mức độ lĩnh hội khác nhau và các mức độ ấy chính là chỉ số đo sự phát triển tích cực của chủ thể”. Tính tích cực đƣợc gắn với một hoạt đông của cụ thể, theo A. iublin kaia “Tính tích cực chỉ sự sẵn sàng hoạt động và con ngƣời tích cực có nghĩa là con ngƣời đang ở trạng thái hoạt động. Nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với tính tích cực, nó chính là nguồn gốc, là động lực của tính tích cực”.
Xem xét tính tích cực trong mối quan hệ chặt chẽ giữa trạng thái hoạt động của con ngƣời với thái độ cải tạo thế giới của họ.cho rằng không nên xem xét tính tích cực chỉ là trạng thái hoạt động cũng nhƣ không nên tách rời mặt bên trong của tính tích cực với mặt bên ngoài của nó hoặc là sự phát triển tính cực bằng các đặc trƣng số lƣợng và chất lƣợng của con ngƣời. 6 Tính tích cực còn thể hiện ở sự nổ lực, sự quyết tâm của chủ thể trong quá trình tƣơng tác với đối tƣợng để đạt đƣợc mục đích đã đặt ra với chất lƣợng cao. Từ những quan điểm trên chúng tôi ác định: - Tính tích cực là thái độ cải tạo biến đổi của chủ thể đối với thế giới xung quanh, là phẩm chất quan trọng của nhân cách. - Tính tích cực gắn liền với hoạt động, mang tính chủ động của chủ thể, đối lập với bị động.
- Động cơ, nhu cầu, hứng thú hoạt động chính là nguồn gốc bên trong của tính tích cực, là động lực thúc đẩy con ngƣời hoạt động. - Tính tích cực là sự cố gắng nổ lực, vƣợt khó của chủ thể để đạt đƣợc mục đích đề ra. Tính tích cực nhận thức Tính tích cực nhận thức là một khái niệm đƣợc nhiều tác giả đề cập, nghiên cứu và phân tích để làm rõ khái niệm này ta cần xem xét cả về nội hàm cũng nhƣ những biểu hiện của nó.Kharlomov cho rằng, Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh đặc trƣng bởi nguyện vọng học tập, nổ lực trí tuệ và nghị lực trong quá trình nắm vững tri thức. Ở đây tác giả đã đặt tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập và phân tích dựa trên biểu hiện về nhu cầu, ý chí của chủ thể nhận thứcđể xem xét khái niệm tính tích cực nhận thức cũng nhƣ biểu hiện của nó.
Tính tích cực nhận thức là một phẩm chất của nhân cách, một thuộc tính của quá trình nhận thức, giúp con ngƣời thực hiện các nhận thức với kết quả cao.Samova xem tính tích cực nhận thức nhƣ mục đích hoạt động, phƣơng tiện và kết quả hhoạt động. Trên thực tế mục đích của việc học tập không chỉ là nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà là hình thành những phẩm chất nhân cách. Theo tác giả, một trong những phẩm chất đó là tính tích cực nhận thức, đƣợc biểu hiện ở tính định hƣớng, tính bền vững của hứng thú nhận thức, sự cố gắng tìm tòi phƣơng thức hiệụ quả để nắm vững kiến thức và phƣơng pháp hành động, tập trung chú để đạt đƣợc mục đích học tập. Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo chủ thể đối với khách thể, thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức 7 năng tâm l , trong đó có tính độc lập và tƣ duy sáng tạo của chủ thể.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo, thì tính tích cực nhận thức là thái độ tích cực là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua huy động ở mức độ cao các chức năng tâm l nhằm giải quyết những vấn đề học tập- nhận thức, nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phƣơng tiện, vừa là điều kiện để đạt mục đích.Ở đây tác giả đã em ét nội hàm của khái niệm nhận thức dƣới góc độ thái độ của hoạt động học tập. Khi các chức năng tâm l đƣợc vận dụng cao nhất để giải quyết vấn đề học tập thì tính tích cực nhận thức thể hiện rõ nhất, cao nhất. Theo tác giả Nguyễn Kỳ, tính tích cực nhận thức là sự ham muốn của hoạt động nhận thức của chủ thể. Chính chủ thể tạo nên biểu hiện bên trong và bên ngoài, chính lòng ham muốn hiểu biết hình thành nên động cơ nhận thức.
Ở đây tác giả muốn nhấn mạnh nhu cầu động cơ.là những yếu tố tâm lý tạo nên động lực thúc đẩy và lôi cuốn học sinh vào quá trình học tập tích cực. Dƣới góc độ tâm lý học Macxit, tính tích cực nhận thức đƣợc đề cập đến ở hai khía cạnh: - Tính tích cực nhận thức nhƣ là một hoạt động tích cực. Trong hoạt động này gồm các thành phần: + Động cơ, nhu cầu hứng thú thu hút chủ thể nhận thức vào quá trình nhận thức và duy trì tính tích cực nhận thức trong suốt quá trình đó. + Tình cảm, ý chí tạo điều kiện học tập trong hảnh động trí tuệ để duy trì tính tích cực nhận thức có chủ định ở mức độ cao.
- Tính tích cực nhận thức nhƣ là một đặt điểm, một nét tính cách của mỗi cá nhân. Qua cách nhìn nhận về tính tích cực nhận thức và cách phân tích khác nhau của các tác giả các nhà nghiên cứu đã thừa nhận mô hình của tính tích cực nhận thức bao gồm ba thành phần: nhận thức, tình cảm, ý chí. Nói khác đi tính tích cực nhận thức xoay quanh ba mặt:nhận thức, thái độ và hành động cụ thể. Dựa trên nội hàm khái niệm về tính tích cực nhận thức đã trình bày ở trên cho phép chúng tôi ác định: 8 Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể, thông qua việc huy động ở mức độ cao các chức năng tâm l nhằm giải quyết các nhiệm vụ nhận thức.
Tính tích cực nhận thức là một phẩm chất tâm lý của cá nhân trong hoạt động nhận thức. Hoạt động Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt, dƣới nhiều góc độ khác nhau: + Dƣới góc độ triết học: “ Hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể và khách thể. Trong quan hệ đó, chủ thể chủ thể là con ngƣời, khách thể là hiện tƣợng khách quan”. Ở góc độ này, hoạt động đƣợc xem là quá trình mà trong đó có sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực chủ thể và khách thể.
+ Dƣới góc độ sinh học: “Hoạt động là sự tiêu hao năng lƣợng thần kinh và cơ bắp của con ngƣời tác động vào hiện thực khách quan, nhằm thỏa mãn những nhu cầu của vật chất và nhu cầu của con ngƣời”. + Dƣới góc độ tâm lý, triết học: “Hoạt động là quan hệ tác động qua lại giữa con ngƣời và thế giới để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con ngƣời. Hoạt động là phƣơng thức tồn tại của con ngƣời thể hiện hai cấp độ Cấp độ vi mô: là cấp độ hoạt dộng của cơ thể, các giác quan, các bộ phận tuân theo quy luật sinh học. Nhờ có hoạt động mà con ngƣời tồn tại và phát triển, nhƣng hoạt động ở cấp độ này không phải là đối tƣợng của tâm học.
Cấp độ vĩ mô: à hoạt động có đối tƣợng của con ngƣời với tƣ cách là một chủ thể của hoạt động có mục đích. Đây chính là đối tƣợng nghiên cứu của tâm lý học. Hoạt động là quá trình con ngƣời thực hiện các quan hệ giữa mình với thế giới bên ngoài -thế giới tự nhiên và xã hội giữa mình với ngƣời khác, giữa mình với bản thân. Trong quá trình quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau.
+ Quá trình thứ nhất là quá trình đối tƣợng hóa, trong đó chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm của hoạt động hay nói cách khác đi tâm lý của con ngƣời(của chủ thể) đƣợc bộc lộ, đƣợc khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm. 9 Qua trình này còn gọi là quá trình “ uất tâm”. + Quá trình chủ thể hóa, có nghĩa là khi hoạt động con ngƣời chuyển từ phía khách thể vào bản thân mình những quy luật bản chất của thế giới để tạo thành tâm lý, ý thức, nhân cách của bản thân, bằng cách chiếm lĩnh thế giới. Quá trình chủ thể hóa còn gọi là quá trình nhập tâm.
Nhƣ vậy là trong quá trình hoạt động, con ngƣời vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý của mình, hay nói cách khác đi tâm l nhân cách đƣợc bộc lộ và hình thành trong hoạt động. Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tƣợng Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể Hoạt động bao giờ cũng có mục đích Hoạt động bao giờ cũng tiến hành theo nguyên tắc gián tiếp. Trong hoạt động con ngƣời gián tiếp tác động đến khách thể qua hình ảnh tâm lý ở trong đầu, gián tiếp qua việc sử dụng công cụ lao động và sử dụng phƣơng tiện ngôn ngữ.