phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần nội dung đƣợc triển khai thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài. Chƣơng 2: Thực trạng phát huy tính tích cực nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động hƣớng dẫn trẻ làm quen với môi trƣờng xung quanh. Chƣơng 3: Một số biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động hƣớng dẫn trẻ làm quen với môi trƣờng xung quanh. Chƣơng 4: Thực nghiệm.
7 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận của việc phát huy tính tích cực nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động hƣớng dẫn trẻ làm quen với môi trƣờng xung quanh. Cơ sở sinh lí của trẻ 5-6 tuổi.
- Đặc điểm hệ thần kinh của trẻ: Gồm não bộ và tuỷ sống. +Não: Nằm trong hộp sọ đƣợc bao bọc và nuôi dƣỡng bởi các màng não và hệ thống tƣới máu não. Trọng lƣợng não sơ sinh 370 - 390 gam (1/8 - 1/9 trọng lƣợng cơ thể , trong khi não ngƣời lớn khoảng 1400 gam (1/40 - 1/50 trọng lƣợng cơ thể). Não phát triển nhanh trong năm đầu (1 tuổi : 900 gam), từ 7 - 8 tuổi phát triển chậm lại và không phát triển ở tuổi 30 - 40.
Đại não gồm 2 bán cầu đại não phải và trái, ngăn cách bởi rãnh gian bán cầu. Mỗi bán cầu đại não có một lớp chất xám dày khoảng 2 - 4 mm bao xung quanh gọi là vỏ não. Trên bề mặt vỏ não có các rãnh chia vỏ não ra 4 thuỳ chính : thuỳ trán, thuỳ chẩm, thuỳ đỉnh và thuỳ thái dƣơng. Các thuỳ chia thành nhiều hồi.
Để nghiên cứu chức năng của vỏ não, theo Brodmann chia vỏ não thành 50 vùng. Tế bào vỏ não có thể chia làm 3 loại: tế bào cảm giác và giác quan, tế bào vận động, tế bào trung gian giữa 2 nhóm. Chức năng của vỏ não: vận động, cảm giác, giác quan và chức năng thực vật. +Tuỷ sống: Nằm trong ống sống; trọng lƣợng lúc mới sinh từ 2 - 6 gam, đến 5 tuổi gấp 3 lần, 14 - 15 tuổi tăng gấp 5 lần, bằng 24 - 30 gam nhƣ ngƣời lớn.
Chóp cùng của tuỷ sống trẻ sơ sinh ngang thắt lƣng thứ 3 (L3), khi đến 4 tuổi thì ở giữa L1 và L2. Mỗi đốt tuỷ sống đƣợc cấu tạo nhƣ sau: Chất trắng nằm ở bên ngoài, đó là các đƣờng dẫn truyền xung động thần kinh đi lên não hoặc từ não đi xuống. Chất xám nằm bên trong, có hình cánh bƣớm, tạo thành sừng trƣớc, sừng sau và sừng bên. Chất xám đóng vai trò trung tâm của các phản xạ tuỷ.
Có tất cả 31 đốt tuỷ, tạo thành các đoạn tuỷ cổ (C1 - C8), đoạn tuỷ lƣng (D1 - D12), đoạn tuỷ thắt lƣng (L1 - L5), đoạn tuỷ cùng (S1 - S5) và một đốt cụt. 8 - Những đặc điểm sinh lý: + Hộp sọ trẻ em cứng bảo vệ bộ não và tính thích nghi với chuyển động của cơ thể. + Lều tiểu não phân não ra 2 phần: phần trên lều và phần dƣới lều. Vách giữa ngăn trên lều tiểu não thành 2 nữa bán cầu giúp não cố định trong hộp sọ.
+ Não có khả năng tái tạo nơi khu vực thần kinh bị tổn thƣơng. + Do các tế bào thần kinh chƣa biệt hoá nên phản ứng của vỏ não có xu hƣớng lan toả khi bị kích thích. + Đối với tuỷ sống có chức năng chi phối nhiều phản xạ quan trọng nhƣ phản xạ trƣơng lực cơ, phản xạ thực vật (bài tiết mồ hôi, đại tiểu tiện, sinh dục. ), phản xạ gân, phản xạ da.
Ngoài ra tuỷ sống còn tham gia dẫn truyền các xung động thần kinh từ ngoại vi đi lên vỏ não và từ não đi xuống. + Hành não có 3 chức năng: Chức năng dẫn truyền cảm giác và vận động; chức năng phản xạ điều hoà hô hấp và phản xạ tim mạch; chức năng điều hoà trƣơng lực cơ. + Tiểu não tham gia vào việc điều hoà trƣơng lực cơ và giữ thăng bằng cho cơ thể , điều hoà các động tác tự động và điều hoà các động tác chủ động. + Dịch não tuỷ có tác dụng bảo vệ tổ chức thần kinh bằng cách ngăn cản không cho các chất độc đi vào tổ chức thần kinh; ngoài ra còn đóng vai trò nhƣ một hệ thống đệm bảo vệ não và tuỷ khỏi bị tổn thƣơng mỗi khi bị sang chấn.
Cơ sở tâm lí của trẻ 5-6 tuổi. Đặc điểm chú ý của trẻ 5-6 tuổi Chú ý của trẻ mẫu giáo là chú ý không chủ định, đặc điểm này kéo dài tới khi trẻ 5-6 tuổi. Trẻ chỉ chú ý đến đối tƣợng khi đối tƣợng gây kích thích mạnh, tạo sự hứng thú cho trẻ. Tuy nhiên cũng đến độ tuổi này, khả năng chú ý của trẻ đã đƣợc phát triển trên nền tảng của tính chủ động, biết hƣớng vào ý thức của mình về các đối tƣợng cần vui chơi, học tập, lao động tự phục vụ.
Chú ý có chủ định đƣợc phát triển thông qua quá trình giáo dục, nó đƣợc hình thành và phát triển mạnh thông qua hệ thống ngôn ngữ nhƣ giọng điệu, ngữ 9 điệu, cách phát âm…Giọng điệu có ý nghĩa kích thích sự chú ý của trẻ. Trẻ nhận ra đƣợc thái độ, tình cảm của ngƣời lớn nhƣ: thờ ơ, lạnh nhạt, bực bội…của ngƣời lớn hay bạn bè xung quanh. Ngoài ngôn ngữ ra trẻ chú ý rất nhiều đến sự vật, hiện tƣợng mới lạ ở xung quanh. Những chi tiết, chức năng, thành phẩm mới ở các đồ vật quen thuộc.
Sự chú ý của trẻ tập trung vào các sự vật hiện tƣợng diễn ra thƣờng ngày. Sự chú ý của trẻ dễ dao động chƣa bền vững vào cuối tuổi mẫu giáo. Việc rèn luyện chú ý có chủ định giúp trẻ chú ý vào những vấn đề để trẻ tiếp thu kiến thức sự vật hiện tƣợng xung quanh. Nhiều phẩm chất chú ý của trẻ đã đƣợc phát triển, trẻ biết hƣớng ý thức của mình vào các đối tƣợng cần cho vui chơi, học tập hoặc lao động tự phục vụ.
Trẻ có khả năng chú ý có chủ định từ 37 - 51 phút, đối tƣợng chú ý hấp dẫn, nhiều thay đổi, kích thích đƣợc sự tò mò, ham hiểu biết của trẻ. Trẻ có thể phân phối đƣợc chú ý vào 2,3 đối tƣợng cùng một lúc, tuy nhiên thời gian phân phối chú ý chƣa bền vững, dễ dao động. Di chuyển chú ý của trẻ nhanh, nếu sự hƣớng dẫn di chuyển tốt. Sự phân tán chú ý ở trẻ còn mạnh, nhiều khi trẻ không tự chủ đƣợc do xung lực bản năng chi phối.
Do vậy cần thay đổi đồ chơi, trò chơi hấp dẫn hơn. Ở giai đoạn này ý nghĩa của âm thanh làm cho trẻ đã chú ý nhiều. Từ âm thanh bên ngoài, trẻ biết chú ý tập trung vào sự suy nghĩ, cảm xúc bên trong óc trẻ. Cần luyện tập các phẩm chất chú ý cho trẻ qua các trò chơi và các tiết học.
Đặc điểm tri giác của trẻ 5-6 tuổi Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi bắt đầu có khả năng quan sát có hệ thống những hiện tƣợng tự nhiên - xã hội xung quanh nếu đƣợc sự giáo dục tốt ở các lớp mẫu giáo. Trẻ quan sát sự vật, hiện tƣợng một cách có ý thức, có mục đích sẽ giảm bớt sự nhầm lẫn, trẻ tri giác chính xác hơn. Cùng ở độ tuổi này các hiện tƣợng trong các hoạt động nhận thức đặc biệt là tri giác, chú ý, trí nhớ, phát triển cao về chất lƣợng. Mức phong phú về các loại tri giác có độ nhạy cảm cao và chính xác hơn: 10 Độ nhảy cảm của các giác quan cao, sự phối hợp các hoạt động hài hòa, linh hoạt, mềm dẻo giúp cho các quá trình nhận thức diễn ra nhanh hơn và hiệu quả cao hơn nhờ đó mà kích thích tính tích cực nhận thức của trẻ.
Đặc điểm trí nhớ của trẻ 5-6 tuổi Trí nhớ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi phát triển mạnh song chủ yếu là trí nhớ không chủ định. Trẻ ghi nhớ những điều gây hứng thú cho trẻ hoặc những gì gây ấn tƣợng mạnh. Do đó sự vật hiện tƣợng nào gây chú ý cho trẻ nhiều hơn, trẻ tập trung chú ý quan sát, lắng nghe, giải thích thì trẻ sẽ nhớ cái đó kĩ hơn. Để trẻ ghi nhớ tốt hơn, giáo viên mầm non cần phải dùng nhiều đồ dùng trực quan cho trẻ hành động với đồ vật, tổ chức quá trình ghi nhớ cho trẻ khoa học hơn.
Những công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí học, giáo dục học cho rằng: + Nội dung ghi nhớ phù hợp với yêu cầu và hứng thú của trẻ. + Sử dụng đồ chơi, đồ dùng dạy học đẹp mắt, đúng lúc, đúng chỗ kết hợp với lối nói diễn cảm. + Tổ chức cho trẻ tiếp xúc với đồ dùng, đồ chơi với các sự vật, hiện tƣợng thì sẽ tạo cho trẻ những cảm xúc mạnh mẽ, ấn tƣợng sâu sắc làm cho trí nhớ phát triển dần. Ngoài ra, cuối tuổi mẫu giáo bắt đầu hình thành trí nhớ logic, trẻ ghi nhớ cái gì có ý nghĩa tốt hơn những cái không có ý nghĩa, vì vậy trẻ mẫu giáo không phải chỉ có ghi nhớ máy móc.
Đến giai đoạn này trí nhớ có chủ định đƣợc phát triển trên nền tảng vững chắc hơn.4 Đặc điểm tư duy của trẻ 5-6 tuổi Ở đầu thời kỳ mẫu giáo, tƣ duy của các em mang tính trực quan hình tƣợng nên trẻ khó giải đƣợc bài toán dƣới hình thức trừu tƣợng, ví dụ khó giải bài toán 2+3 nếu không đƣợc nhìn sự vật cụ thể (hai quả táo, hai bông hoa…). Giữa thời kỳ mẫu giáo, trẻ phát triển mạnh khả năng ký hiệu hóa, từ đó xuất hiện kiểu tƣ duy trực quan sơ đồ. Thực chất, nó vẫn thuộc kiểu tƣ duy trực quan - hình tƣợng nhƣng khái quát hơn và là một bƣớc trung gian để chuyển sang tƣ duy trừu tƣợng. Nhờ có sự phát triển ngôn ngữ, trẻ ở lứa tuổi này đã xuất hiện 11 loại kiểu tƣ duy- trừu tƣợng.
Tƣ duy trực quan - hành động vẫn tiếp tục phát triển, hầu hết trẻ em đều rất tích cực hoạt động với đồ vật, nhờ đó trí tuệ, đặc biệt là tƣ duy phát triển khá mạnh. Lúc này trẻ đã bắt đầu giải các bài toán thực tế, những quá trình đó không diễn ra trong óc mà diễn ra bằng tay theo phƣơng thức “thử và có lỗi” đƣợc gọi là tƣ duy bằng tay hay tƣ duy trực quan – hành động. Tƣ duy trực quan - hình tƣợng phát triển mạnh mẽ và chiếm ƣu thế.