Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Dạy học môn Mĩ thuật ở bậc tiểu học theo phương pháp truyền thống thường phụ thuộc chặt chẽ vào sách giáo khoa, chủ yếu tập trung vào việc hướng dẫn học sinh tô màu hoặc vẽ mô phỏng theo mẫu có sẵn. Cách tiếp cận này bộc lộ hạn chế trong việc khơi gợi trí tưởng tượng, làm giảm tính chủ động và hạn chế sự phát triển tư duy sáng tạo của học sinh tiểu học. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục theo định hướng tiếp cận năng lực và chuyển dịch sang xã hội tri thức, việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trở thành một yêu cầu cấp thiết. Dự án Hỗ trợ Giáo dục Mĩ thuật Tiểu học theo phương pháp Đan Mạch (SAEPS) đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai nhằm khắc phục các rào cản của phương pháp truyền thống, chuyển trọng tâm từ truyền thụ kiến thức sang tổ chức các hoạt động trải nghiệm thẩm mĩ.

Tuy nhiên, quá trình đưa phương pháp Đan Mạch vào thực tế giảng dạy tại các trường tiểu học còn gặp nhiều trở ngại khách quan và chủ quan:

  • Cơ sở vật chất của đa số nhà trường chưa có phòng chức năng riêng biệt; không gian lớp học chật hẹp, gây trở ngại cho hoạt động nhóm và vận động; tủ đựng dụng cụ nhỏ, gây khó khăn cho việc bảo quản học phẩm và sản phẩm tạo hình.
  • Phân bổ thời lượng tiết học phụ thuộc vào thời khóa biểu chung của toàn trường, khiến các tiết học thuộc cùng một chủ đề bị chia cắt, gián đoạn mạch cảm xúc và quy trình sáng tạo của học sinh.
  • Giáo viên gặp khó khăn trong việc thiết kế bài dạy tích hợp linh hoạt, chuẩn bị học cụ đa dạng và thực hiện đánh giá theo định hướng năng lực.
  • Học sinh giai đoạn đầu còn lúng túng khi thảo luận nhóm, thống nhất chủ đề và phân công bố cục mảng miếng.

Từ những vấn đề thực tiễn trên, tác giả thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm nghiên cứu các giải pháp sư phạm giúp phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 2 khi học môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích cơ sở lý luận và thực trạng dạy học Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch; đánh giá mức độ tiếp nhận và năng lực sáng tạo của học sinh lớp 2; từ đó đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm nhằm phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 2 và nâng cao chất lượng dạy học môn Mĩ thuật tại trường tiểu học.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến quá trình dạy học Mĩ thuật, tâm lý học lứa tuổi và việc hình thành kỹ năng vẽ cho học sinh lớp 2.
    • Khảo sát, đánh giá thực trạng dạy và học Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch tại cơ sở thực nghiệm.
    • Xây dựng và đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm nhằm phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 2.
    • Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã xây dựng.
    • Nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của bản thân.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu (Chủ thể): Hệ thống biện pháp sư phạm nhằm phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 2 trong dạy học Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch.
  • Khách thể nghiên cứu: Học sinh khối lớp 2 (trực tiếp tại lớp 2/1) và giáo viên dạy Mĩ thuật tại Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát và thực nghiệm trong tháng 04 năm 2018 (năm học 2017 - 2018).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng:

  • Khái niệm Mĩ thuật: Được xác định là loại hình nghệ thuật thị giác sử dụng ngôn ngữ tạo hình gồm đường nét, hình khối, màu sắc, đậm nhạt, không gian để phản ánh thế giới khách quan và biểu đạt tư tưởng, tình cảm của con người.
  • Khái niệm Sáng tạo: Dựa trên định nghĩa của Thái Phương, sáng tạo là quá trình say mê nghiên cứu, tìm tòi để tạo ra các giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, tìm ra phương thức giải quyết vấn đề mới mà không bị gò bó vào khuôn mẫu có sẵn.
  • Phương pháp dạy học Mĩ thuật Đan Mạch (SAEPS): Dự án dạy học mĩ thuật lấy người học làm trung tâm, coi trọng thực hành, phát triển trí tuệ thị giác - không gian và ngôn ngữ thẩm mĩ.
  • Mô hình 5 năng lực cốt lõi theo phương pháp Đan Mạch:
    1. Năng lực trải nghiệm.
    2. Năng lực kỹ năng và kỹ thuật (đặc thù môn học).
    3. Năng lực biểu đạt.
    4. Năng lực phân tích và diễn giải (hoặc trình bày).
    5. Năng lực giao tiếp và đánh giá.
  • Cơ sở tâm lý học lứa tuổi học sinh lớp 2 (6-7 tuổi): Tri giác mang tính tổng thể, đại thể, ít đi sâu vào chi tiết; chú ý không chủ định chiếm ưu thế, thời gian tập trung liên tục từ 20-25 phút; trí nhớ trực quan - hình tượng chiếm ưu thế; tư duy trực quan cụ thể, giàu cảm xúc; tưởng tượng phong phú nhưng tản mạn. Đặc điểm tranh vẽ của trẻ 6-7 tuổi mang tính cảm xúc, ước lệ, dùng màu sắc nguyên chất tươi sáng, chú trọng hình ảnh gây ấn tượng mạnh hơn là tỷ lệ giải phẫu học.
  • Khung chương trình môn Mĩ thuật lớp 2 hiện hành: Thời lượng 35 tiết/năm (1 tiết/tuần), tỷ lệ phân bổ 4/5 thời lượng dành cho thực hành; tích hợp 5 phân môn truyền thống (Vẽ theo mẫu, Vẽ trang trí, Vẽ tranh, Tập nặn tạo dáng, Thường thức mĩ thuật).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc tài liệu, phân tích, so sánh, tổng hợp, phân loại và lựa chọn các công trình tâm lý học, giáo dục học và phương pháp dạy học mĩ thuật.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp quan sát sư phạm trong các giờ học Mĩ thuật.
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (anket): phát phiếu khảo sát tới 160 học sinh khối 2 (thu về 158 phiếu hợp lệ) và 2 giáo viên chuyên trách Mĩ thuật của trường.
    • Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn sâu giáo viên và học sinh.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm tại lớp 2/1.
  • Nhóm phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu khảo sát và kết quả thực nghiệm bằng thống kê tỷ lệ phần trăm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các nền tảng lý luận thuộc hai lĩnh vực: Giáo dục học và Tâm lý học.

Về cơ sở giáo dục học, tác giả làm rõ bản chất của năng lực sáng tạo ở học sinh tiểu học, biểu hiện qua khả năng chuyển tải tri thức sang tình huống mới, phát hiện chức năng mới của đối tượng quen thuộc, đề xuất nhiều giải pháp giải quyết vấn đề và nhìn nhận sự vật dưới nhiều góc độ. Khóa luận phân tích thông điệp của chuyên gia Kirsten Fugl (Dự án Đan Mạch) về vai trò của giáo viên như người xúc tác giúp học sinh phát triển năng lực tự nhiên. Đồng thời, chương này phân tích mô hình 5 năng lực cốt lõi theo phương pháp Đan Mạch và quan điểm xây dựng chương trình Mĩ thuật tiểu học (tính giáo dục thẩm mĩ, tính phổ cập, tính ứng dụng, tính liên thông và tăng cường thực hành).

Về cơ sở tâm lý học, tác giả phân tích đặc điểm các quá trình nhận thức của học sinh tiểu học:

  • Tri giác: Mang tính đại thể, phân tích chi tiết còn yếu, dễ nhầm lẫn các hình thể tương đồng.
  • Chú ý: Chú ý không chủ định chiếm ưu thế, dễ phân tán do ức chế chưa mạnh; học sinh lớp 2 chỉ tập trung từ 20 đến 25 phút, khối lượng chú ý chỉ từ 2-3 đối tượng cùng lúc.
  • Trí nhớ: Ghi nhớ trực quan - hình tượng phát triển mạnh hơn ghi nhớ từ ngữ logic, học sinh đầu cấp thường có xu hướng ghi nhớ máy móc.
  • Tư duy và tưởng tượng: Tư duy gắn liền với hành động trực quan; tưởng tượng rất bay bổng, hồn nhiên nhưng nghèo nàn về đề tài và xa rời thực tế nếu thiếu sự định hướng sư phạm.
  • Đặc điểm tranh vẽ: Tranh vẽ trẻ 6-7 tuổi thể hiện rõ cảm xúc cá nhân, mang tính tự sự, phóng to các chi tiết các em ấn tượng (ví dụ vẽ chú bộ đội thì súng và bàn tay được vẽ to nhất) và sử dụng gam màu nguyên chất, tươi sáng.

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 2 mô tả thực trạng dạy học Mĩ thuật tại Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Trường có 31 lớp học, 48 cán bộ, giáo viên, nhân viên (trong đó có 2 giáo viên chuyên trách Mĩ thuật) và 1342 học sinh.

Tác giả đã triển khai khảo sát đối với 158 học sinh khối 2 và 2 giáo viên chuyên trách Mĩ thuật vào tháng 4/2018. Kết quả thu được các số liệu cụ thể như sau:

Nội dung khảo sát học sinh (n = 158) Mức độ / Lựa chọn Số lượng phiếu Tỷ lệ (%)
Mức độ hứng thú đối với môn Mĩ thuật Rất thích 95 60%
Bình thường 61 39%
Không thích 2 1%
Nhiệm vụ của học sinh trong tiết học Tự tìm hiểu SGK, quan sát mẫu/tranh, kết hợp với GV và bạn bè 80 51%
Chỉ lắng nghe ý kiến giáo viên 29 18%
Chỉ quan sát mẫu vật, tranh ảnh, video 21 13%
Hợp tác nhóm hoàn thành sản phẩm 19 12%
Tự mình tìm hiểu sách giáo khoa 9 6%
Hình thức học tập thường diễn ra ở lớp Học theo lớp 73 46%
Học theo nhóm 53 34%
Học cá nhân 32 20%

Khảo sát đối với 2 giáo viên Mĩ thuật cho thấy:

  • 100% giáo viên (2/2) xác nhận gặp khó khăn thường xuyên về việc phân bổ thời gian dạy học và khâu thu nhận, đánh giá kết quả của học sinh; 50% giáo viên (1/2) thỉnh thoảng gặp khó khăn trong khâu chuẩn bị đồ dùng dạy học.
  • Về sự thay đổi của học sinh khi học theo phương pháp Đan Mạch: 100% giáo viên nhận thấy tư duy logic phát triển, trí tưởng tượng và óc sáng tạo phong phú hơn, kỹ năng nghiên cứu tiếp thu tốt hơn; 50% giáo viên ghi nhận sự cải thiện về tương tác nhóm và ý thức trật tự.
  • Về các năng lực cần hình thành: 100% giáo viên đồng thuận với năng lực trải nghiệm, năng lực kỹ năng - kỹ thuật, năng lực biểu đạt và năng lực phân tích - trình bày; 50% ghi nhận năng lực tự học và năng lực giao tiếp - đánh giá.

Chương 3: Nghiên cứu các biện pháp nhằm phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 2 trong dạy học Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch

Tác giả xây dựng hệ thống 7 biện pháp sư phạm cụ thể và quy trình thiết kế kế hoạch bài dạy theo chủ đề:

  1. Biện pháp 1 - Phát huy và nâng cao vai trò của người thầy: Giáo viên giữ vai trò chỉ đạo, tổ chức; rèn luyện tác phong chuẩn mực, giọng nói truyền cảm; chuẩn bị giáo án điện tử, sưu tầm tranh ảnh và tích hợp kiến thức liên môn (Âm nhạc, Tiếng Việt).
  2. Biện pháp 2 - Sử dụng và chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học: Đồ dùng trực quan phải phong phú, đảm bảo tính thẩm mĩ; sưu tầm thêm tranh vẽ của học sinh năm trước để làm mẫu đối chiếu; khai thác các chất liệu tạo hình đa dạng như bút sáp, màu nước, màu bột, vật liệu tái chế; khai thác hình ảnh thực tế đời sống.
  3. Biện pháp 3 - Tạo tình huống khi vào phần giới thiệu bài: Thiết kế mở đầu bài học hấp dẫn bằng bài hát, trò chơi hoặc video tình huống. Ví dụ: Dạy bài "Sắc màu thiên nhiên" cho xem video thắng cảnh kết hợp ô nhiễm môi trường để gợi mở tư duy; bài "Con vật quen thuộc" cho học sinh làm động tác mô phỏng để cả lớp đoán tên.
  4. Biện pháp 4 - Phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong phát hiện kiến thức mới:
    • Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở, gắn liền với kinh nghiệm sống của học sinh (ví dụ câu hỏi về bức tranh "Mâm quả ngày Tết", "Môi trường quanh em"). Tôn trọng mọi ý kiến phản hồi của học sinh, không chê bai câu trả lời sai.
    • Kích thích không khí thi đua tích cực trong thời gian thực hành, lấy nhóm học sinh khá làm hạt nhân lan tỏa.
    • Đánh giá sản phẩm dựa trên đặc điểm tâm lý lứa tuổi, không lấy tiêu chuẩn của người lớn áp đặt lên tranh thiếu nhi; tổ chức cho học sinh nhận xét chéo sản phẩm của nhau.
  5. Biện pháp 5 - Tổ chức lồng ghép các trò chơi, hội thi phù hợp: Tổ chức trò chơi âm nhạc, đố vui nhận biết hình dáng, tiếng kêu con vật ở đầu hoặc cuối tiết học để giải tỏa căng thẳng và kích thích cảm xúc thẩm mĩ.
  6. Biện pháp 6 - Giới thiệu sản phẩm, tranh vẽ, mở triển lãm tranh theo từng chủ đề: Cho học sinh trưng bày sản phẩm trên bảng lớp hoặc trình chiếu qua máy chiếu đa vật thể; hướng dẫn học sinh đánh giá theo 3 mức độ: Hoàn thành tốt ($A^+$), Hoàn thành ($A$), Chưa hoàn thành ($B$).
  7. Biện pháp 7 - Quan tâm, chú trọng hơn tới hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp: Đưa học sinh ra không gian ngoài trời để giải phóng khỏi khuôn mẫu phòng học 35 phút, tăng cường quan sát thực tế thiên nhiên, phát triển ngôn ngữ biểu cảm và khả năng cảm thụ thẩm mĩ trực tiếp.

Chương 3 cũng giới thiệu 7 quy trình dạy học Mĩ thuật Đan Mạch áp dụng vào chương trình lớp 2:

  1. Quy trình Vẽ cùng nhau và sáng tạo các câu chuyện (ký họa dáng người, vật).
  2. Quy trình Vẽ biểu cảm (vẽ chân dung, vật thể không nhìn giấy).
  3. Quy trình Trang trí và vẽ tranh qua âm nhạc.
  4. Quy trình Xây dựng cốt truyện (xé, cắt dán, tạo hình 3D).
  5. Quy trình Tạo hình 3D tiếp cận theo chủ đề (dây thép, đất nặn, giấy bồi, vật tìm được).
  6. Quy trình Điêu khắc - Nghệ thuật tạo hình không gian (nghệ thuật sắp đặt, biểu diễn, sắm vai).
  7. Quy trình Tạo hình con rối và nghệ thuật biểu diễn.

Dựa trên các quy trình này, tác giả đã tái cấu trúc 35 bài học đơn lẻ trong sách giáo khoa Mĩ thuật 2 thành kế hoạch dạy học theo các chủ đề tích hợp:

Học kì Chủ đề Tên bài học tích hợp theo SGK Thời lượng Quy trình Đan Mạch vận dụng
Học kì I Vũ điệu của màu sắc Bài 1 (Vẽ đậm nhạt), Bài 6 (Màu sắc), Bài 11 (Vẽ tiếp họa tiết đường diềm), Bài 14 (Họa tiết hình vuông), Bài 28 (Vẽ màu vào hình) 5 tiết Vẽ cùng nhau, Vẽ theo nhạc
Thiên nhiên quanh em Bài 2 (Vẽ lá cây), Bài 4 (Vườn cây), Bài 5 (Nặn/vẽ/xé dán con vật), Bài 13 (Vườn hoa, công viên) 4 tiết Vẽ cùng nhau, Vẽ theo nhạc, Tạo hình 3D
Em và những người thân yêu Bài 10 (Vẽ chân dung), Bài 23 (Vẽ mẹ hoặc cô giáo) 2 tiết Vẽ biểu cảm, Vẽ theo nhạc
Trường em Bài 7 (Em đi học), Bài 19 (Sân trường giờ ra chơi), Bài 21 (Nặn/vẽ dáng người), Bài 2 (Xem tranh thiếu nhi) 4 tiết Vẽ cùng nhau, Cốt truyện, Tạo hình 3D
Thiết kế thời trang đến trường Bài 9 (Vẽ cái mũ), Bài 20 (Vẽ cái túi xách), Bài 27 (Vẽ cái cặp xách) 3 tiết Vẽ cùng nhau, Vẽ theo nhạc
Học kì II Hộp màu của em Bài 25 (Họa tiết hình vuông), Bài 22 (Trang trí đường diềm), Bài 31 (Trang trí hình vuông) 3 tiết Vẽ cùng nhau
Em và những vật nuôi yêu thích Bài 24 (Vẽ con vật), Bài 26 (Vẽ vật nuôi), Bài 16 (Nặn con vật), Bài 29 (Nặn, vẽ, xé dán con vật) 4 tiết Vẽ biểu cảm, Vẽ cùng nhau, Tạo hình 3D

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Khóa luận triển khai thực nghiệm sư phạm tại lớp 2/1 Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ nhằm đánh giá tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất và quy trình thiết kế bài dạy tích hợp theo phương pháp Đan Mạch. Tiến trình thực nghiệm thực hiện theo các kế hoạch bài dạy đã xây dựng, tập trung vào việc khơi gợi hứng thú, tổ chức làm việc nhóm, hướng dẫn học sinh trải nghiệm thực tế và tự đánh giá sản phẩm tạo hình theo các thang mức quy định. Kết quả thực nghiệm bước đầu khẳng định tính hiệu quả của phương pháp trong việc nâng cao mức độ tham gia chủ động và khả năng sáng tạo của học sinh.


Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính:

  • Phân tích được thực trạng dạy học Mĩ thuật khối 2 tại Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ: Có 60% học sinh rất thích học Mĩ thuật; 51% học sinh đã có thói quen phối hợp tự học, quan sát và làm việc nhóm; tuy nhiên vẫn còn 46% tiết học diễn ra theo hình thức toàn lớp truyền thống.
  • Làm rõ nguyên nhân gây khó khăn cho giáo viên khi thực hiện phương pháp Đan Mạch: 100% giáo viên gặp vướng mắc về áp lực phân bổ thời gian và quy trình đánh giá kết quả học tập; 50% gặp khó khăn về học cụ.
  • Đề xuất và cấu trúc thành công chương trình Mĩ thuật lớp 2 thành hệ thống 8-9 chủ đề học tập tích hợp (mỗi chủ đề kéo dài từ 2 đến 5 tiết), áp dụng linh hoạt 7 quy trình mĩ thuật của phương pháp Đan Mạch thay cho các bài học 35 phút riêng lẻ.
  • Xây dựng 7 biện pháp sư phạm đồng bộ từ khâu chuẩn bị tâm thế giáo viên, phương tiện trực quan, mở bài tình huống, phát vấn gợi mở, lồng ghép trò chơi, tổ chức triển lãm đến dạy học không gian ngoài lớp học.

Đề xuất và kiến nghị của tác giả:

  • Đối với Ngành cấp trên (Bộ và Sở Giáo dục và Đào tạo): Cần đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, xây dựng phòng học chức năng chuyên biệt cho môn Mĩ thuật; trang bị tủ bảo quản học cụ và sản phẩm cho học sinh; tăng cường các khóa bồi dưỡng chuyên sâu về phương pháp mới.
  • Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo: Cần linh hoạt trong việc hướng dẫn phân bổ thời lượng thời khóa biểu, cho phép sắp xếp các tiết Mĩ thuật liền mạch (ghép tiết) để giáo viên triển khai trọn vẹn quy trình theo chủ đề; tạo điều kiện cho giáo viên giao lưu, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn giữa các trường tiểu học trên địa bàn.

Đóng góp của đề tài: Khóa luận đã chuyển hóa các nguyên lý lý thuyết chung của Dự án Mĩ thuật Đan Mạch (SAEPS) thành một kế hoạch phân phối chương trình chủ đề chi tiết, kèm các giáo án và biện pháp sư phạm cụ thể cho khối lớp 2 tại một trường tiểu học đô thị, giải quyết trực tiếp mâu thuẫn giữa yêu cầu đổi mới phương pháp và sự hạn chế của cơ sở vật chất thực tế.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian ngắn (tháng 4/2018), phạm vi khảo sát và thực nghiệm mới chỉ giới hạn tại một cơ sở giáo dục (Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng) với quy mô mẫu giáo viên nhỏ ($n = 2$).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng phạm vi nghiên cứu và thực nghiệm sư phạm sang các khối lớp khác (lớp 1, 3, 4, 5) và nhiều trường tiểu học trên các địa bàn khác nhau (nông thôn, miền núi); tiếp tục hoàn thiện quy trình đánh giá định lượng sự phát triển các chỉ số sáng tạo của học sinh tiểu học trong môn Mĩ thuật.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này có giá trị tham khảo chuyên môn cho:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học và Sư phạm Mĩ thuật: Tham khảo cách thức xây dựng giáo án tích hợp theo chủ đề và quy trình vận dụng 7 kỹ thuật tạo hình Đan Mạch.
  • Giáo viên Mĩ thuật tiểu học: Ứng dụng trực tiếp bảng phân phối chủ đề lớp 2 (Chương 3), hệ thống câu hỏi gợi mở và phương thức tổ chức triển lãm, đánh giá sản phẩm học sinh bằng bảng tiêu chí ($A^+, A, B$).
  • Cán bộ quản lý chuyên môn cấp trường tiểu học: Tham khảo các kiến nghị về sắp xếp thời khóa biểu liền tiết và bố trí không gian học tập ngoài trời cho môn Mĩ thuật.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận tích hợp 35 bài học Mĩ thuật lớp 2 thành những chủ đề chính nào trong học kì I?
Trong học kì I, 18 bài học riêng lẻ được gom thành 5 chủ đề: "Vũ điệu của màu sắc" (5 tiết), "Thiên nhiên quanh em" (4 tiết), "Em và những người thân yêu" (2 tiết), "Trường em" (4 tiết), và "Thiết kế thời trang đến trường của em" (3 tiết).

2. Điểm khác biệt cơ bản về tranh vẽ giữa học sinh 6-7 tuổi và học sinh 9-11 tuổi theo nghiên cứu là gì?
Học sinh 6-7 tuổi có tư duy trực quan hình tượng, vẽ tranh mang tính cảm xúc, ước lệ, phóng to hình ảnh ấn tượng và dùng màu nguyên chất rực rỡ; trong khi học sinh 9-11 tuổi bắt đầu phát triển tư duy logic, tranh vẽ phản ánh thực tế hơn, biết phân tích tương quan không gian xa gần và quy luật che khuất giữa các vật thể.

3. Theo kết quả khảo sát thực trạng, giáo viên gặp phải những khó khăn lớn nhất nào khi áp dụng phương pháp Đan Mạch?
100% giáo viên được khảo sát cho biết gặp khó khăn trong việc phân bổ thời gian dạy học và khâu thu nhận, đánh giá kết quả của học sinh do tiết học bị gián đoạn và thiếu phòng học chức năng.

4. Khóa luận đề xuất đánh giá sản phẩm Mĩ thuật của học sinh theo những mức độ nào?
Khóa luận đề xuất đánh giá qua hoạt động nhận xét, triển lãm tranh với 3 mức độ: Hoàn thành tốt ($A^+$), Hoàn thành ($A$), và Chưa hoàn thành ($B$), chú trọng động viên sự tiến bộ và tính sáng tạo cá nhân thay vì áp đặt tiêu chuẩn kỹ thuật của người lớn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Kim Phụng đã làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng dạy học Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch tại Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đề xuất hệ thống 7 biện pháp sư phạm đồng bộ và thiết kế kế hoạch dạy học tích hợp 8-9 chủ đề cho toàn bộ chương trình Mĩ thuật lớp 2. Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo thực tiễn cho giáo viên và sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm phát huy năng lực sáng tạo của học sinh.