phần mở đầu, đề tài luận văn không nghiên cứu hòa giải trong tố tụng, hòa giải hành chính gắn với hoạt động của các cơ quan hành chính và hòa giải cơ sở mang tính xã hội đối với những tranh chấp nhỏ. Ba là, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại: Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường và ngày càng được các nhà kinh doanh ưa chuộng. Đó là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của Hội đồng Trọng tài hoặc Trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành. Bốn , phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng tòa án: Là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh Nhà nước được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ.
Bản án hay quyết định của Toà án về vụ tranh chấp mang tính ràng buộc pháp lý và được đảm bảo thi hành 11 bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước4. Các tranh chấp thương mại ở nước ta hiện nay chủ yếu được các bên tranh chấp khởi kiện đến tòa án. Thông thường hình thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường Toà án được tiến hành khi mà việc áp dụng các biện pháp thương lượng, hoà giải không đạt hiệu quả trong khi hình thức trọng tài còn khá mới mẻ đối với việc giải quyết tranh chấp ở nước ta hiện nay. Yêu cầu của vi c gi i quyết tranh chấp th ng m i Xuất phát từ những đặc điểm của tranh chấp thương mại đã đặt ra yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh,thương mại phải phúc đáp được những yêu cầu sau: Th nhất, việc giải quyết tranh chấp thương mại phải đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp.
Với lý do đây là loại tranh chấp của các thương nhân việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức nào, yêu cầu giải quyết vấn đề gì là do họ tự quyết định, nó thể hiện quyền tự do kinh doanh của các thương nhân. Th hai, dù giải quyết bằng phương nào cũng phải đáp ừng yêu cầu của việc giải quyết là nhanh chóng, kịp thời không làm gián đoạn, hạn chế, cản trở đến hoạt động kinh doanh của các bên tranh chấp. Ví đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, nếu quá trình giải quyết tranh chấp kéo dài, dây dưa sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh, thậm chí có thể dẫn đến việc đình ch hoạt động do bị chiếm dụng vốn hoặc không có vật tư, nguyên liệu để sản xuất thì việc giải quyết tranh chấp sẽ không còn ý nghĩa. Muốn vậy, thủ tục giải quyết phải đơn giản nhưng vấn đảm bảo tính khách quan, đúng pháp luật, ch ng hạn như thủ tục giải quyết của tóa án mặc dù rất chặt chẽ song vẫn có thể áp dụng thủ tục rút gọn.
Th ba, đảm bảo giữ bí mật, uy tín của các bên trong kinh doanh. Trong kinh doanh các thương nhân có những bí quyết kinh doanh, những bí quyết nó 4 Viện Đại học Mở Hà Nội (năm 2016), Giáo trình u t kinh tế i t N m, Nxb Tư pháp, Hà Nội, Trg 269 12 mang lại những giá trị kinh tế lớn, nếu quá trình giải quyết không giứ được những bí mật thì việc giải quyết cũng không mang lại ý nghĩa cho các thương nhân. Đồng thời việc giải quyết tranh chấp cũng phải giữ được uy tín cho các thương nhân trên thị trường để họ còn tiếp tục thiết lập được các quan hệ với các đối tác khác. Vì vậy tùy theo từng trường hợp cụ thể tòa án có thể xử kín không công khai.
Th t , khôi phục, duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh. Giải quyết tranh chấp là giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng về quyền, nghĩa vụ giữa các bên, song việc giải quyết đó vủa đảm bảo quyền lợi của các bên song không ảnh hưởng đến mối quan hệ hợp tác giữa các bên là một yêu cầu rất khó trong thực tiễn. Tâm lý của người Việt, mỗi khi kiện tụng nhau ra tòa thường có tâm lý đó là con đường “cùng” và thường cắt đứt quan hệ sau giải quyết. Vì vậy, khi giải quyết tranh chấp tòa án mà cụ thể là các Thẩm phán phải có “ nghệ thuật” một mặt vẫn đảm bảo giải quyết đúng pháp luật song vẫn đảm bảo để các bên vui vẻ bắt tay nhau tiếp tục hợp tác.
Do đó tòa án cấn chú trọng khâu hòa giải trong tố tụng để các bên tự giải quyết trước sự chúng kiến của Thẩm phán. Th năm, đạt hiệu quả cao trong việc thi hành các phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của các cơ quan tài phán như tòa án hoặc trọng tài nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp cũng như bảo đảm cho hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại có hiệu lực thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật 1. Khái niệm, đặc điểm của hòa giải trong giải quyết tranh chấp thƣơng mại 1. Kh i ni m h gi i th ng m i Hòa giải là một biện pháp truyền thống để giải quyết các tranh chấp trong đời sống xã hội, nhưng quan niệm về hòa giải còn nhiều vấn đề chưa thống nhất.
Theo Từ điển tiếng Việt: “h gi i vi c thuyết phục c c bên đồng ý chấm d t 13 xung đột, xích mích một c ch ổn thỏ ”. Khái niệm này đề cập đến hành động và mục đích của hòa giải, nhưng chưa nêu được đầy đủ các yếu tố như bản chất, nội dung, và chủ thể của hòa giải. Trong khoa học pháp lý cũng có nhiều quan điểm khác nhau về hòa giải. Có quan điểm cho rằng: “h gi i qu trình gi i quyết những tr nh chấp, bất đồng giữ c c bên.
Trong qu trình h gi i cần đến bên th b với v i tr trung p, m trung gi n giúp c c bên tr nh chấp gi i quyết đ ợc những bất đồng v đ t đ ợc một thỏ thu n phù hợp với quy định củ ph p u t, đ o đ c xã hội v tự nguy n thực hi n những thỏ thu n đó” 5. Theo quan điểm này, hòa giải có mục đích giải quyết thành công tranh chấp. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp hòa giải đều thành công. Khi đó, dù mâu thuẫn chưa được giải quyết hoàn toàn nhưng các bên tranh chấp cũng có cơ hội hiểu rõ hơn nội dung tranh chấp, bày tỏ ý chí của mình với đối phương và cũng được nghe ý kiến của đối phương về vụ tranh chấp.
Từ đó, hai bên có thể phần nào tìm được tiếng nói chung và làm giảm mức độ mâu thuẫn. Cũng có ý kiến cho rằng: “h gi i một chế định qu n trọng củ u t tố tụng dân sự, ph ng ph p gi i quyết tr nh chấp bằng chính sự thỏ thu n, th ng ợng củ c c đ ng sự”6. Quan điểm này đã nêu được vai trò, ý nghĩa của chế định hòa giải trong TTDS, nhưng chưa phản ánh được bản chất của hòa giải các tranh chấp dân sự và đặc biệt là các tranh chấp thương mại. Việc giải quyết tranh chấp bằng chính sự thỏa thuận của các đương sự có thể được chia thành hai trường hợp: trường hợp do các đương sự tự hòa giải và trường hợp do các đương sự hòa giải với sự giúp đỡ của hòa giải viên thương mại.
Hai trường hợp giải quyết tranh chấp bằng chính sự thỏa thuận, thương lượng của các đương sự nêu trên có bản chất khác nhau; bởi lẽ, hai trường hợp này dẫn đến các hệ quả giải quyết khác nhau về tranh chấp thương mại. 5 Viện Ngôn ngữ, (1998), Từ điển tiếng i t, Nxb. 6 Nguyễn Ngọc Điệp, Lê Thị Kim Nga, Vũ Mạnh Thông 2015), Tìm hiểu ng nh u t tố tụng dân sự, Nxb Mũi Cà Mau, Cà Mau. 14 Hòa giải tranh chấp thương mại là hoạt động do hòa giải viên tiến hành giúp đỡ các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp thương mại.
Tuy nhiên, chủ thể của hòa giải lại chính là các đương sự, các đương sự mới là chủ thể có quyền quyết định và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp thương mại. Mặc dù không phải là chủ thể của hòa giải, song hòa giải viên thương mại có vai trò quan trọng trong việc xác định thời gian, thành phần, địa điểm, nội dung hòa giải, giải thích pháp luật và nội dung tranh chấp để các bên đi đến thống nhất về phương án giải quyết vụ việc. Để cho hoạt động hòa giải thương mại được khách quan, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong tranh chấp và sự thỏa thuận của các bên phù hợp với pháp luật thì việc hòa giải phải tuân theo những quy định pháp luật, quy tắc hòa giải cũng như sự thỏa thuận giữa các bên. Từ những phân tích trên, có thể hiểu hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại ho t động củ bên th b trung p, giúp đỡ, đ r c c gi i ph p nhằm đ p ng yêu cầu củ c c bên tr nh chấp.
Từ đó, c c bên tự thỏ thu n v quyết định gi i quyết mâu thuẫn, bất đồng ph t sinh giữ họ trong ho t động th ng m i. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại thì gi i th ng m i ph ng th c gi i quyết tr nh chấp th ng m i do c c bên thỏ thu n v đ ợc h gi i viên th ng m i m trung gi n h gi i hỗ trợ gi i quyết tr nh chấp theo quy định củ Nghị định n y. Đặc điểm h gi i th ng m i Một , v tính chất, ho gi i th ng m i ph ng th c gi i quyết tr nh chấp th ng m i độc p m ng tính ự chọn. Tương đồng với đa số các quốc gia trên thế giới, Việt Nam cũng quy định về bốn phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bao gồm: thương lượng, hoà giải, Trọng tài và Toà án.
Trong đó, thương lượng, hoà giải và trọng tài là ba phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn (ADR). Hoà giải thương mại khi được tiếp cận như một phương thức giải quyết 15 tranh chấp thì cần được hiểu là một thủ tục, quy trình độc lập.