CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE THI TRUONG CHUNG KHOAN PHAI SINH VA PHAP LUAT VE THI TRUONG CHUNG KHOAN PHAI SINH 1. Ly luận về thị trường chứng khoán phái sinh 1. Khái niệm Thị trường chứng khoán phát sinh Trên thế giới, việc xây dựng và phát triển Thị trường chứng khoán phái sinh (TTCKPS) như một cấu phần không thể thiếu trong cấu trúc thị trường tong thé là ưu tiên của phần lớn các nước có thị trường tài chính phát triển. Dù cho được coi là một công cụ tài chính hiện đại, sự phát triển vượt bậc và rộng khắp của TTCKPS là kết quả của một quá trình hình thành, thay đổi và sáng tạo qua hơn hàng trăm năm.
Thị trường phái sinh đã manh nha từ thời Hy Lạp cô đại khi người Athen thời bấy giờ đã thiết lập hợp đồng vận chuyên thương mại như các hợp đồng kỳ hạn, đến thời Trung cô thì các hợp đồng quy định việc giao hang trong tương lai với mức giá có định tại thời điểm ky hợp đồng đã trở nên phổ biến. Năm 1730 là một trong những cột mốc chính cho sự phát triển của thị trường phái sinh khi Sàn giao dịch hợp đồng tương lai đầu tiên trên thế giới được thiết lập và thực hiện trên Gạo đã được tô chức thông qua Sở giao dịch Gạo Dojima tại Osaka. Tới những năm 1980 - Khi quá trình kết nối công nghệ hóa hiện đại hóa vượt qua khoảng cách rào cản địa lý, thì sự bùng phát của chứng khoán phái sinh mới đạt tới đỉnh cao và đặt cột mốc thứ hai trong toàn bộ quá trình phát triển. Các sản phẩm phái sinh dựa trên tài sản tài chính đã được hình thành như cổ phiếu đơn lẻ, chỉ số cô phiếu, trái phiếu cùng với các kim loại quý, năng lượng.
Xét về bản chất, phái sinh theo tiếng Anh là Derivative, John C. Hull cho răng đó là một công cụ tài chính mà giá trị của nó được sinh ra và phụ 10 thuộc vào giá trị của tài sản gốc — tài sản co sở [44]. Luật Quy định hợp đồng chứng khoán năm 1956 (SCRA) đã định nghĩa phái sinh là dẫn xuất từ một tài sản có thê đảm bảo hoặc không đảm bảo và nguồn gốc từ giá, hoặc chỉ số giá của chứng khoán cơ bản. Theo John Downes và Jordan Elliot (1991): “Chứng khoán phái sinh là một thỏa thuận hợp đồng thực hiện vào một ngày trong tương lai.
Giá trị của nó phụ thuộc vào tài sản cơ sở như cô phiếu, trái phiếu, tiền tệ và hàng hóa”. TS Lê Hoang Nga đã định nghĩa: Các chứng khoán phái sinh (CKPS) ra đời từ một sản phẩm tài chính hoặc loại hàng hóa nào đó — được gọi là tài sản cơ sở như hàng hóa, cô phiếu, một khoản vay. và giá tri của nó được xác định dựa vào giá trị của chính tài sản cơ sở. Do đó, người ta gọi chúng là các chứng từ có nguồn gốc tài chính hoặc các CKPS [19, tr.
Có thể hiểu rằng CKPS sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các đối tượng đầu tư như cô phiếu, trái phiếu, dé dam bảo rằng nếu giá của cô phiếu, trái phiếu có thay đổi thế nào bao nhiêu đi nữa thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu. Điều cần lưu ý rằng chứng khoán phái sinh không xác nhận quyền sở hữu tài sản cơ sở mà chỉ là bản hợp đồng (hoặc tương tự như hợp đồng) nêu rõ cam kết về quyên, trách nhiệm và nghĩa vụ có bên mua — bên bán đối với tài sản vào thời điểm xác định trong tương lai. Khi các tổ chức, cá nhân tham gia cam kết, mục tiêu của họ là bảo vệ khỏi những rủi ro do có những thay đôi lãi suất, giá trị tiền tệ hay hàng hóa. Tham gia giao dịch chứng khoán phái sinh không phải là các nhà đầu tư mà là những người muốn rào chắn, quản lý rủi ro, đầu cơ hay kinh doanh chênh lệch giá.
Thị trường được hàm ý theo nhiều ý nghĩa khác nhau nhưng tựu chung thì đó là nơi người mua và người 11 bán tương tác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ, hay hợp đồng hoặc công cụ, dé lấy tiền hoặc trao đối. Đối với TTCKPS, Th.S Phạm Minh Cường định nghĩa răng đây là “thị trường mua đi bán lại sản phẩm (công cụ) phái sinh, trong đó có hợp đồng quyền chon, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng kỳ hạn. và các sản phâm phái sinh khác” [8].S Hoàng Thị Hoài cũng đồng quan điểm khi cho rằng TTCKPS là thị trường dành cho các công cụ tài chính phái sinh, những công cụ mang tính hợp đồng, mà thành quả của chúng dựa trên một hoặc một số công cụ tài sản khác [13]. Tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 42/2015/NĐ-CP ngày 05/5/2015 về CKPS và TTCKPS đã quy định: “TTCKPS là địa điểm, hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán phái sinh hoặc thực hiện nghĩa vụ bù trừ, thanh toán giao dịch các chứng khoán phái sinh”.
Do đó, tác giả đưa ra định nghĩa TTCKPS (Derivative Securities Market) là nơi dién ra các trao đôi, giao dich, mua bán các hợp đồng, nghĩa vụ giữa các bên với nhau dựa trên tài sản gốc là cô phiếu, trái phiếu, chỉ số hàng hóa, nông sản, tiền tệ,. là thị trường tài chính được giao dịch, trao đổi thông qua các hợp đồng về những công cụ tài chính, thị trường này có thể được phân thành thị trường niêm yết và thị trường phi tập trung (OTC) va đi kèm tương ứng là tính pháp lý cũng sẽ khác nhau. Về bản chất thì đây là thị trường phân tán rủi ro, hay còn gọi là thị trường chuyền nhượng rủi ro. Các sản phẩm của TTCKPS ngay từ khi ra đời đã có mục tiêu tự thân của chúng, đó là quản tri rủi ro, bảo đảm cho một bên của hợp đồng ấn định trước giá trị trong tương lai, từ đó giúp nhà đầu tư thiết lập được cơ chế phòng vệ rủi ro.
Một khi danh mục nhà đầu tư đã được bảo vệ trước rủi ro, thì nhà đầu tư sẽ tự tin hơn trong việc duy trì, thúc đây các hoạt động kinh doanh và đầu tư, từ đó tạo hiệu ứng tâm lý lan tỏa và thúc đây sự phát triên của nên kinh tê. Các yếu tô cầu thành thị trường chứng khoán phái sinh 1. Các sản phẩm trên thị trường chứng khoán phái sinh TTCKPS phát hành và giao dịch các chứng từ tài chính có nguồn gốc từ chứng khoán cơ sở, thị trường này có thê được phân thành 2 nhóm đó là: - Thị trường giao dịch tập trung: Tai day chứng khoán phái sinh được giao dịch tại các Sở giao dịch và sản phẩm giao dịch tương ứng trên loại thị trường này là Hợp đồng tương lai (HDTL, Hợp đồng quyền chọn (HĐQC) được chuẩn hóa theo quy định của Sở. - Thị trường giao dịch phi tập trung (OTC): Giao dịch tại không diễn ra tại Sở giao dịch hay tại bất cứ một địa điểm tập trung nao khác mà được thỏa thuận qua điện thoại hay các phương tiện thông tin liên lạc.
Các sản phẩm giao dịch của loại thị trường nay là Hợp đồng kỳ hạn, HDQC và Hợp đồng hoán đổi. Đối với Hợp đồng kỳ han thì đây là chứng khoán phái sinh giao dịch thỏa thuận được thành lập giữa các bên tham gia, xác nhận cam kết mua hoặc bán một số lượng tài sản cơ sở nhất định theo một mức giá đã được hai bên xác định và thong nhất, tai một thời điểm được xác định trong tương lai và được ấn định trong hợp đồng. Hợp đồng kỳ hạn cho phép nhà đầu tư thanh toán và thỏa thuận trực tiếp các điều khoản trong hợp đồng nên có thé đáp ứng nhiều nhu cầu ý chí cụ thể của nhà đầu tư nhưng lại khó chuyên nhượng lại cho bên thứ ba. Ngoài ra các bên tham gia hợp đồng có thé phải chịu rủi ro tín dụng của nhau nếu một bên mat khả năng thanh toán, thường thì không có cơ quan quản lý và cơ chế quy định việc đảm bảo thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng nên các nhà đầu tư có thể đứng trước nguy cơ đối tác không thực hiện đúng hợp đồng.
“Các tài sản gốc có thé là chứng khoán, ngoại tệ, hàng hóa hoặc lãi suất. Các chủ thé tham gia hợp đồng ky han 13 trên thị trường tài chính cũng rất đa dạng: ngân hàng, tổ chức đầu tư, chính phủ và công ty” [35, tr. Hop đồng tương lai được phát trién từ hợp đồng kỳ hạn nên có những điểm tương đồng: là một hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên để mua hoặc bán một tai sản tài chính hoặc hàng hóa tại một mức gia xác định vào một thời điểm nhất định trong tương lai. Tuy nhiên khác với hợp đồng kỳ han ở chỗ chúng thường được giao dịch trên thị trường có tổ chức.
Để tạo điều kiện cho giao dịch thì Sở giao dịch quy định chuẩn hóa những điều kiện cho hợp đồng như ky hạn hợp đồng, quy mô hợp đồng, cấp pham hang hóa, phương thức thanh toán, giao hàng. Sở giao dịch cung cấp một cơ chế đảm bảo rằng hợp đồng sẽ được tôn trọng thực hiện khi mà hai bên đối tác giao dịch không nhất thiết phải biết nhau. Chính vì thế mà có thê định nghĩa hợp đồng tương lai là những thỏa thuận được tiêu chuẩn hóa dé mua hoặc bán một tai sản tài chính hay hàng hóa tại một mức giá xác định va vào một thời điểm nhất định trong tương lai. Hợp dong quyền chọn là quyền của các nhà đầu tư được mua hay bán một số lượng cô phiếu xác định trước theo một giá xác định trước và thấp hơn giá hiện hanh cua cổ phiếu đó trên thị trường.
Quyền lựa chọn là một bản hợp đồng mang tính thỏa thuận nhưng ràng buộc về mặt pháp lý, có ba bên tham gia: người mua quyền chọn, người viết quyền lựa chọn đồng thời là người bán và cơ quan quản lý, đảm bảo cho hợp đồng được thực hiện chính xác. Đặc điểm của Hợp đồng quyên chọn là vị thế mua là người mua quyền có quyên thực hiện hay không thực hiện quyên, còn vi thé bán phải có nghĩa vụ thực hiện quyền khi bên mua yêu cầu; người mua quyên phải trả cho người bán quyền một khoản phí xem như giá của quyền chọn và ngày thực hiện quyền do người mua quyền quyết định trong kỳ han. 14 Hợp đồng hoán đổi là một thỏa thuận giữa hai bên hay còn gọi là cam kết song phương với mục đích trao đổi tài sản hoặc dòng tiền trong khoảng thời gian cụ thé quy định trong hợp đồng.