Luận văn thạc sỹ: Pháp luật về thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng tại Việt Nam

Chuyên khảo luật học phân tích Pháp luật về thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng tại việt nam hiện nay luận văn thạc sỹ, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ Luật

2023

154
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh pháp luật thi hành án tín dụng ngân hàng VN

Pháp luật về thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng tại Việt Nam là một hệ thống các quy phạm pháp luật phức tạp, giữ vai trò then chốt trong việc bảo vệ quyền lợi của các tổ chức tín dụng và đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế. Về bản chất, đây là giai đoạn cưỡng chế thi hành các bản án có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại liên quan đến các tranh chấp tín dụng ngân hàng. Hoạt động này không chỉ đơn thuần là thu hồi nợ ngân hàng mà còn là sự khẳng định tính nghiêm minh của pháp luật, củng cố lòng tin của nhà đầu tư và người dân vào hệ thống tư pháp. Cơ sở pháp lý chính cho hoạt động này bao gồm Luật Thi hành án dân sự, Luật các tổ chức tín dụng, và Bộ luật Dân sự. Các văn bản này tạo thành một hành lang pháp lý để cơ quan thi hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, từ việc ra quyết định thi hành án đến việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế như kê biên tài sản. Mục đích cuối cùng của pháp luật về thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng là hiện thực hóa các phán quyết của tòa án, chuyển các quyền và nghĩa vụ trên giấy tờ thành tài sản thực tế cho người được thi hành án, vốn thường là các ngân hàng. Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều bên liên quan, bao gồm ngân hàng, khách hàng, và các cơ quan nhà nước, nhằm giải quyết hiệu quả các khoản xử lý nợ xấu.

1.1. Bản chất và vai trò của thi hành án dân sự tín dụng

Thi hành án tín dụng ngân hàng là một bộ phận không thể tách rời của hoạt động thi hành án dân sự. Bản chất của nó là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, do cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thực hiện nhằm mục đích thi hành các bản án liên quan đến hợp đồng tín dụng. Hoạt động này có vai trò đặc biệt quan trọng: Thứ nhất, nó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức tín dụng, giúp thu hồi vốn, giảm thiểu rủi ro và các khoản nợ xấu. Thứ hai, nó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác xét xử, đảm bảo các phán quyết của Tòa án được thực thi trên thực tế. Thứ ba, hoạt động này giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật của các cá nhân, tổ chức trong xã hội, đặc biệt là nghĩa vụ trả nợ theo cam kết.

1.2. Khung pháp lý chính điều chỉnh hoạt động thi hành án

Hoạt động thi hành án tín dụng ngân hàng chịu sự điều chỉnh của một hệ thống văn bản pháp luật đa dạng. Trọng tâm là Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), quy định về trình tự, thủ tục thi hành án. Bên cạnh đó, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cung cấp cơ sở pháp lý cho các hoạt động tín dụng và xử lý nợ. Các quy định trong Bộ luật Dân sự về giao dịch bảo đảm, hợp đồng và nghĩa vụ trả nợ cũng là nền tảng không thể thiếu. Ngoài ra, các văn bản dưới luật như Nghị định về giao dịch bảo đảm và các thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết việc phối hợp giữa các cơ quan, tạo nên một khung pháp lý tương đối toàn diện để điều chỉnh lĩnh vực phức tạp này.

II. Top bất cập trong thi hành án tín dụng ngân hàng hiện nay

Mặc dù khung pháp lý đã được hình thành, thực tiễn áp dụng pháp luật về thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập trong thi hành án. Vấn đề lớn nhất và phức tạp nhất chính là việc xử lý tài sản bảo đảm. Nhiều trường hợp tài sản nằm ở nhiều địa phương, pháp lý không rõ ràng, hoặc bị người phải thi hành án cố tình tẩu tán. Thêm vào đó, hệ thống văn bản pháp luật còn thiếu sự đồng bộ, thống nhất. Như tài liệu nghiên cứu đã chỉ ra, dù số lượng văn bản hướng dẫn nhiều nhưng chúng "thiếu sự đồng bộ, thống nhất và chưa phù hợp với thực tiễn". Điều này gây khó khăn cho Chấp hành viên trong quá trình áp dụng pháp luật. Thời gian thi hành án thường kéo dài, gây tốn kém chi phí cho cả ngân hàng và cơ quan thi hành án. Các thách thức này không chỉ làm giảm hiệu quả thu hồi nợ ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến hoạt động xử lý nợ xấu, tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn cho hệ thống tài chính. Việc hoàn thiện pháp luật để giải quyết các vướng mắc này là một yêu cầu cấp thiết.

2.1. Vướng mắc trong xử lý tài sản bảo đảm và thu hồi nợ

Xử lý tài sản bảo đảm là khâu khó khăn nhất trong thi hành án tín dụng. Thực tế cho thấy, người phải thi hành án thường tìm mọi cách để trì hoãn, cản trở việc kê biên tài sảnphát mãi tài sản. Các tài sản như quyền sử dụng đất, nhà xưởng thường vướng mắc về giấy tờ pháp lý, tranh chấp với bên thứ ba, hoặc có sự thay đổi hiện trạng so với khi thế chấp. Quá trình định giá và tổ chức bán đấu giá tài sản cũng mất nhiều thời gian và không phải lúc nào cũng thành công. Những khó khăn này trực tiếp cản trở quá trình thu hồi nợ ngân hàng, khiến các khoản nợ xấu tồn đọng kéo dài, ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn vốn và hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng.

2.2. Sự thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật liên quan

Một trong những nguyên nhân gốc rễ của các bất cập là sự thiếu đồng bộ giữa Luật Thi hành án dân sự, pháp luật đất đai, pháp luật nhà ở, và pháp luật doanh nghiệp. Sự chồng chéo, mâu thuẫn trong các quy định pháp luật tạo ra những "khoảng trống" hoặc xung đột khi áp dụng vào một vụ việc cụ thể. Ví dụ, quy định về xác định tài sản chung của vợ chồng trong doanh nghiệp tư nhân khi thi hành án vẫn còn phức tạp. Sự thiếu thống nhất này đòi hỏi Chấp hành viên phải có kiến thức chuyên sâu và khả năng vận dụng linh hoạt, nhưng đồng thời cũng tạo ra rủi ro pháp lý và làm chậm tiến độ thi hành án.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả thi hành án tín dụng ngân hàng

Để nâng cao hiệu quả thi hành án, cần có những giải pháp đồng bộ từ việc hoàn thiện pháp luật đến cải tiến quy trình thực thi. Trọng tâm của việc áp dụng pháp luật về thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng là phải tối ưu hóa các thủ tục thi hành án, đặc biệt là các thủ tục liên quan đến xử lý tài sản. Cần đơn giản hóa quy trình xác minh điều kiện thi hành án, định giá và phát mãi tài sản. Việc xây dựng một cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả giữa cơ quan thi hành án dân sự, tòa án, cơ quan đăng ký đất đai, và công an là vô cùng quan trọng. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ của đội ngũ Chấp hành viên cũng là yếu tố quyết định. Một Chấp hành viên giỏi nghiệp vụ, liêm chính sẽ biết cách vận dụng pháp luật một cách linh hoạt để giải quyết các tình huống phức tạp, đẩy nhanh tiến độ thu hồi nợ và đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các bên. Đây là những phương pháp cốt lõi để tháo gỡ các nút thắt hiện nay.

3.1. Cải tiến thủ tục kê biên và phát mãi tài sản thế chấp

Quy trình kê biên tài sảnphát mãi tài sản cần được cải tiến theo hướng nhanh gọn và minh bạch hơn. Cần có quy định rõ ràng về việc ưu tiên xử lý các tài sản đã được thế chấp hợp pháp cho ngân hàng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, công khai thông tin về tài sản bán đấu giá sẽ giúp thu hút nhiều người mua hơn, tăng khả năng bán thành công tài sản với giá tốt nhất. Đồng thời, cần rút ngắn thời gian giải quyết các khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc kê biên, định giá, để tránh tình trạng vụ việc bị kéo dài vô thời hạn, gây thiệt hại cho người được thi hành án.

3.2. Nâng cao năng lực Chấp hành viên và cơ quan thi hành án

Con người là yếu tố trung tâm. Việc bồi dưỡng, đào tạo thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng xử lý tình huống và kiến thức pháp luật liên ngành cho đội ngũ Chấp hành viên là nhiệm vụ bắt buộc. Cần xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả công việc của Chấp hành viên dựa trên kết quả thực tế, gắn với tỷ lệ thi hành án thành công. Bên cạnh đó, cần đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ cho cơ quan thi hành án dân sự để hỗ trợ tốt hơn cho công tác xác minh thông tin, quản lý hồ sơ và cưỡng chế thi hành án.

IV. Bí quyết hoàn thiện pháp luật về thi hành án tín dụng

Việc hoàn thiện pháp luật là giải pháp căn cơ và lâu dài nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong thi hành án tín dụng ngân hàng. Trọng tâm là sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sựLuật các tổ chức tín dụng theo hướng đồng bộ và phù hợp hơn với thực tiễn. Cần xây dựng các quy định đặc thù cho việc thi hành các bản án liên quan đến tín dụng, đặc biệt là cơ chế xử lý nhanh đối với tài sản bảo đảm. Nghiên cứu của các học giả như Vũ Thị Hồng Yến đã nhấn mạnh sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật đối với các khoản vay có biện pháp bảo đảm. Việc này không chỉ bảo vệ quyền lợi của ngân hàng mà còn tạo ra một môi trường pháp lý minh bạch, khuyến khích các tổ chức tín dụng mạnh dạn đầu tư, cấp vốn cho nền kinh tế. Một hệ thống pháp luật tiên tiến, khoa học và phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ là nền tảng vững chắc để nâng cao hiệu quả thi hành án và thu hút đầu tư nước ngoài.

4.1. Kiến nghị sửa đổi Luật Thi hành án dân sự Luật TCTD

Cần có những kiến nghị cụ thể để sửa đổi Luật Thi hành án dân sựLuật các tổ chức tín dụng. Đối với Luật THADS, cần bổ sung các quy định rút gọn thủ tục xử lý tài sản bảo đảm đã được thỏa thuận rõ trong hợp đồng tín dụng. Đối với Luật các TCTD, cần trao thêm quyền cho các tổ chức tín dụng trong việc thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm khi bên vay vi phạm nghĩa vụ, giảm bớt sự phụ thuộc vào quá trình khởi kiện ra tòa án và thi hành án kéo dài. Sự sửa đổi này phải đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên và tuân thủ các nguyên tắc của Bộ luật Dân sự.

4.2. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả chặt chẽ

Pháp luật cần quy định rõ ràng, mang tính bắt buộc về trách nhiệm phối hợp của các cơ quan liên quan như Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, cơ quan đăng ký tài sản, và chính quyền địa phương. Cần thiết lập một cơ chế chia sẻ thông tin điện tử liên thông để cơ quan thi hành án dân sự có thể nhanh chóng xác minh thông tin về nhân thân và tài sản của người phải thi hành án. Sự phối hợp chặt chẽ sẽ giúp ngăn chặn kịp thời các hành vi tẩu tán tài sản và hỗ trợ hiệu quả cho các hoạt động cưỡng chế thi hành án, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

16/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VE THI HANH AN TIN DUNG NGAN HANG 1. KHAI QUAT CHUNG VE TIN DUNG NGAN HANG VA THI HANH AN TIN DUNG NGAN HANG 11. Khai niém tin dung ngan hang va thi hanh an tin dụng ngân hang Ngay nay, co lé khéng ai trong chung ta chua ting nghe dén thuat ngữ “tin dung”. Boi vi, thuật ngữ “tín dụng” được sử dụng rất phố biến và đặc biệt găn liền với định chế tài chính không thể thiếu của bất kỳ nền kinh tế hay đó chính là ngân hàng.

Và nếu chính xác hơn cân phải gọi đây đủ là “quan hệ tín dụng” hay đó là mối quan hệ cho vay có tài sản bảo đảm giữa một bên là ngân hàng với một bên là khách hàng. Nếu phân tích về mặt ngữ nghĩa, “tín” được hiểu là sự tin tưởng, tín nhiệm giữa những chủ thể với nhau. Tuy nhiên, cơ sở của sự tin tưởng còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, ví dụ như mỗi quan hệ giữa các bên, một bên thứ ba đứng làm bảo lãnh cho khoản vay hay bên đi vay phải sử dụng tài sản thế chấp để bảo đảm cho khả năng thanh toán của khoản vay. Còn “dụng” hàm ý ở đây là việc một chủ thể cho một chủ thể khác “mượn”, “vay” một khoản khả dụng hay đó chính là “tài sản” hoặc “vốn” để sử dụng.

Như vậy, tín dụng được hiểu với ý nghĩa chính là việc một chủ thể cho một chủ thể khác “dùng”, “mượn”, “vay” một khoản tiền, tài sản nhưng đòi hỏi cần có sự tin tưởng hay thông thường nhất là phải có tải sản thế chấp để bảo đảm khả năng thanh toán cho khoản vay khi đến hạn ma khong thể thực hiện việc trả cả sốc và lãi. Thông thường, khi nhắc đến tín dụng, người ta thường liên tưởng đến ngân hàng. Sở dĩ như vậy là vì ngân hàng về bản chất là loại hình tổ chức tín dụng hoạt động chủ yêu liên quan đến việc kinh doanh tiên tệ. Trong đó, hoạt động mua tiền được thực hiện theo cách ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng với một lãi suất thấp hơn lãi suất bán tiền cho một khách hàng khác sử dụng.

Còn hoạt động bán tiền (chính là tín dụng) là hoạt động ngân hang cho khách hàng vay tiền với lãi suất cao hơn lãi suất huy động (lãi suất mua tiền). Nói cách khác, ngân hàng thường sông nhờ việc thu được khoản tiên chênh lệch giữa việc mua tiền giá thấp và bán tiền với giá cao hơn. Đối với nên kinh tế, ngân hàng được coi như một là trong những kênh dẫn vốn gián tiếp cho nền kinh tế hay là nơi dịch chuyển các nguồn tài chính. Và như đã nêu, hoạt động bán tiền chính là hoạt động tín dụng và là một trong những nghiệp vụ ngân hàng.

Hoạt động tín dụng ngân hàng là hoạt động được pháp luật cho phép thực hiện không chỉ ở Việt Nam mà còn ở mọi quốc gia trên thế giới. Đây cũng là một trong những hoạt động đầu tiên của các ngân hàng thương mại tính từ khi xuất hiện cho đến nay. Theo quy định tại khoản 14 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bố sung năm 2017): “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tô chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Điều này cho thấy, cấp tín dụng chính là một hoạt động của ngân hang hay đó được coi là nghề nghiệp của ngân hàng.

Trên thực tế, tín dụng ngân hàng tôn tại nhằm đáp ứng, phục vụ nhu cau vé von cho nên kinh tê. Tín dụng ngân hàng phản ánh mối quan hệ tài chính (vay và trả nợ) giữa một bên là tô chức tín dụng và bên còn lại là khách hàng (tổ chức, cá nhân). Có thể khăng định, đây là hình thức tín dụng rất phổ biến và thậm chí có thể coi là thuận lợi, nhanh chóng, linh hoạt nhất trong số các hình thức tín dụng. Đối tượng của tín dụng ngân hàng chính là quan hệ cho vay mượn về tiền tệ.

Còn về hoạt động thi hành án tín dụng ngân hàng, trước hết, cần phải nói rõ, đây là một phần trong hoạt động thi hành án dân sự và do hệ thống cơ quan thi hành án dân sự tại Việt Nam thực hiện theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Vậy nên, để làm rõ khái niệm thi hành án tín dụng ngân hàng, có lẽ, cần hiểu sơ lược về thi hành án dân sự. Trong đó, “nỗi tiếp giai đoạn xét xử giải quyết vụ việc dân sự (bao gồm cả bốn lĩnh vực: dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động) là giai đoạn thi hành án dân sự. Vì vậy, thi hành án dân sự chính là quá trình tổ chức thực hiện các bản án, quyết định dân sự sau khi chúng có hiệu lực pháp luật hoặc những phần của bản án, quyết định dân sự sơ thâm nhưng được phép thi hành cho dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị”.

7] Về bản chất, “thi hành án dân sự là quá trình thực hiện bản án, quyết định dân sự (bao gồm các lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình) của Tòa án hoặc các chủ thể có thẩm quyền ra các phán quyết khác” [15, tr. Nghiên cứu cho thấy, trước đây tại Việt Nam, thi hành án dân sự được gọi là thủ tục thi hành an van (procedure d’exécution de jugement). 04] Hiện nay, thi hành án dân sự “là hoạt động quan trọng dé các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án và các cơ quan tài phán được thực hiện trên thực tế, góp phần giữ ving ky cương phép nước, bảo đảm công bằng, thực thi công lý và củng cô lòng tin của người dân” [11, tr. Còn theo cách thức phân loại tranh chấp tại Việt Nam, tranh chấp trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng được quan niệm là tranh chấp kinh doanh, thương mại và được giải quyết bởi Tòa án nhân dân [35, Điều 30].

Ngoài việc được giải quyết tranh chấp tín dụng, ngân hàng tại Tòa án, loại tranh chấp này còn có thể được giải quyết bằng Trọng tải thương mại [29, Điều 2]. Tuy nhiên, kết quả giải quyết của Tòa án hay Trọng tài thương mại chỉ có thê được hiện thực hóa thông qua quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Và theo quy định tại Việt Nam hiện nay, chỉ có hai chủ thể có quyền tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án chính là cơ quan thi hành án dân sự và Văn phòng Thừa phát lại. Như vậy, bên cạnh cơ quan thi hành án của công quyên - cơ quan thi hành án dân sự, Văn phòng Thừa phát lại chính là tô chức thi hành án dân sự của tư nhân thành lập, hoạt động và chịu mọi trách nhiệm trong quá trình hoạt động.

Còn đối với phán quyết của Trọng tài thương mại, Văn phòng Thừa phát lại không được phép tổ chức thi hành [7, khoản 4, Điều 3]. Từ đó, có thể quan niệm ứÖ¡ hành án tín dụng ngân hàng là hoạt động do cơ quan, tổ chức có thẩm quyên tiễn hành theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định để nhằm mục đích thi hành nội dung của bản án, quyết định liên quan đến đối tượng là hoạt động tín dụng ngân hàng do Tòa án nhân dân, Trọng tài thương mại có thẩm quyên ra phán quyết theo quy định của pháp luật. Mục đích của thi hành án tín dụng ngân hàng chính là việc hiện thực hóa bản án, quyết định sau khi được các cơ quan có thâm quyền xét xử để bảo đảm quyên, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án ở đây là các tổ chức tín dụng. Diễn đạt theo cách khác, cơ quan thi hành án dân sự và Văn phòng Thừa phát lại chính là nơi tiễn hành hoạt động thu hồi nợ cho tô chức tín dụng thông qua hoạt động tổ chức thi hành bản án, quyết định.

Tuy nhiên, cần lưu ý, hiện nay hoạt động tô chức thi hành bản án, quyết định của Thừa phát lại gần như không còn được thực hiện trên thực tế vì rất nhiều nguyên nhân [17, tr. Vậy nên, đề tài chủ yếu tập trung đối với hoạt động thi hành án tín dụng ngân hàng do cơ quan thi hảnh án dân sự tổ chức thực hiện. Đặc điểm thi hành án tín dụng ngân hàng Thị hành án nói chung và thị hành án tín dụng ngân hàng nói riêng có cùng một mục tiêu là thực hiện nội dung của bản án, quyết định đã được đưa ra thi hành án theo quy định của pháp luật. Mặt khác, chủ thể tổ chức thi hành án của chúng đều là cơ quan thi hành án dân sự với quy trình tiễn hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 64/2014/QH13 ngày 25/11/2014; sau đó lại duoc sửa đổi, bố sung theo Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14 ngày 12/6/2018 và hợp nhất thành Luật Thi hành án dân sự số 13/VBHN-VPQH ngày 29/6/2018).

Tuy nhiên, để thuận tiện và tránh rườm rà nên tất cả các nội dung trong toàn bộ Luận văn đều thống nhất viết tắt là “Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đối, bố sung năm 2014)” trên cơ sở quy định từ Luật Thị hành án dân sự số 13/VBHN-VPQH ngày 29/6/2018. Như vậy, từ khái niệm thi hành án tín dụng ngân hàng và bên cạnh những đặc điểm chung giống như thi hành án trong các lĩnh vực khác, thi hành án tín dụng ngân hàng có các đặc điểm pháp lý riêng biệt sau: Thứ nhất, thi hành án tín dụng ngân hàng là hoạt động mang tính quyên lực nhà nước: Kế từ “Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993, Tòa án nhân dân không chịu trách nhiệm tô chức thi hành án dân sự nữa mà việc tổ chức thi hành án dân sự kê từ thời điểm này được chuyền giao cho cơ quan thi hành án dân sự thuộc các cơ quan tư pháp đảm nhiệm” [1§, tr. Dua theo cơ câu tô chức theo ngành dọc của hệ thống thi hành án dân sự Việt Nam, Tổng cục Thi hành án dân sự là cơ quan quản lý hoạt động thi hành án dân sự trong toàn ngành. Còn cơ quan trực tiếp chịu trách nhiệm thi hành án là Cục thi hành án dân sự (được tô chức tại từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) và Chi cục thi hành án dân sự (tổ chức tại mỗi quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ