CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 1. Khái quát chung về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của hộ kinh doanh 1.
Khái niệm hộ kinh doanh Hộ kinh doanh được hình thành khi những nhu cầu trao đổi, mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ của các cá nhân, hộ gia đình hoặc một nhóm người xuất hiện. Trải qua các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, hộ kinh doanh đến nay vẫn chiếm số lượng lớn và là một chủ thể kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế ở nước ta. Mô hình kinh doanh này rất giản đơn và nhỏ lẻ, có thể thấy ở các cửa hàng, sạp chợ, quán ăn, dịch vụ rửa xe, cắt tóc…Trước công cuộc đổi mới (1986), hộ kinh doanh được gọi bằng các tên khác nhau như: tổ chức tiểu sản xuất hàng hóa; hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ; hộ tiểu thủ công nghiệp…Các tên gọi này cũng thay đổi theo từng thời kỳ. Nghị định số 27-HĐBT ngày 09/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) chính thức công nhận hộ kinh doanh dưới hình thức hộ kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải.
Nghị định số 66/HĐBT ngày 02/03/1992 quy định hộ kinh doanh tồn tại dưới hình thức cá nhân kinh doanh (gồm các cá nhân, nhóm kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp định). Các Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh và Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/04/2004 đã lần lượt quy định hộ kinh doanh tồn tại như hình thức kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ gia đình (gồm các thợ thủ công, người làm dịch vụ nhỏ) được phép kinh doanh sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy môn bài; tuy nhiên không được phép thuê lao động thường xuyên, nhưng sau đó đã bãi bỏ quy định này. Với các Nghị định hướng dẫn Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014, hộ kinh tế cá thể được đổi tên thành hộ kinh doanh, bổ sung thêm đối tượng một nhóm người chủ hộ kinh doanh và quy định yêu cầu hộ kinh doanh sử dụng từ 10 lao động phải chuyển sang doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Như vậy, thuật 7 ngữ “hộ kinh doanh” chính thức được sử dụng tại các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam từ năm 2006.
Cụ thể tại khoản 1 Điều 36 Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29/08/2006 quy định: “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Hiện nay, Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 đã có hiệu lực thi hành thay thế cho Luật Doanh nghiệp năm 2014, đồng thời nghị định hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp như Nghị định số 01/2021/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 78/2015/NĐ-CP đã có những thay đổi nhất định về khái niệm hộ kinh doanh. Tại khoản 1 Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh.
Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh”. Theo quy định trên, Nghị định 01/2021/NĐ-CP đã có những quy định mới. Cụ thể, Nghị định đã giới hạn về chủ thể được phép thành lập hộ kinh doanh là cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình. Trước đây, khoản 1 Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định chủ thể được phép thành lập hộ kinh doanh là “cá nhân” và “một nhóm người” gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ hoặc “một hộ gia đình” làm chủ.
Việc thay đổi chủ thể từ “một nhóm người” thành “các thành viên hộ gia đình” như quy định hiện nay làm cho khái niệm hộ kinh doanh được cụ thể, rõ ràng và mang tính bao quát hơn. Theo đó, trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh. Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh. Theo quy định khoản 1 Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP nói trên, 8 khái niệm hộ kinh doanh đã bỏ quy định hộ kinh doanh chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động.
Xét về nội hàm khái niệm thì hộ kinh doanh là một chủ thể kinh doanh, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm tiến hành hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, không phải bất cứ cá nhân, hộ gia đình nào khi tiến hành hoạt động kinh doanh đều phải đăng ký kinh doanh. Tại khoản 2 Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP quy định: “Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn bán chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký hộ kinh doanh, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương”. Quy định mới này đã bổ sung thêm một trường hợp không phải đăng ký kinh doanh đó là trường hợp kinh doanh thời vụ.
Ngoài ra, để xác định những trường hợp không thuộc diện phải đăng ký kinh doanh thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương mình. Khi này, các cá nhân kinh doanh thuộc diện thu nhập thấp thì không phải đăng ký kinh doanh và không được gọi là hộ kinh doanh. Hộ kinh doanh là một trong những thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, được phân biệt với các chủ thể kinh doanh khác về quy mô kinh doanh, chủ sở hữu, tư cách pháp lý và chế độ trách nhiệm. Đặc điểm của hộ kinh doanh Thứ nhất, hộ kinh doanh có thể là cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình.
Khác với cá nhân, hộ gia đình có nguồn gốc từ truyền thống pháp luật Á Đông. Hộ gia đình có thể thành lập hộ kinh doanh, theo đó các thành viên trong gia đình có tài sản chung cùng đóng góp công sức để thực hiện hoạt động kinh doanh để kiếm lời, cùng hưởng lãi và chịu lỗ. Các thành viên này có mối quan hệ với nhau về huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng1. Theo quy định của pháp luật hiện hành ghi nhận hai đối tượng được phép thành lập hộ kinh doanh có thể là cá nhân hoặc 1 Trần Xuân Đài (2015), Quy định pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, tr.
9 các thành viên hộ gia đình. Để có thể thành lập hộ kinh doanh thì cá nhân và các thành viên hộ gia đình phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Cụ thể, theo quy định tại Điều 80 Nghị định 01/2021/NĐ-CP thì cá nhân, thành viên hộ gia đình là công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự, trừ các trường hợp người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Quy định hiện nay đã bổ sung thêm một trường hợp mà trước đây Nghị định 78/2015/NĐ-CP hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp không quy định, đó là trường hợp người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định không được đăng ký thành lập hộ kinh doanh.
Như vậy, chủ thể được quyền đăng ký thành lập là cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình. Tuy nhiên, để có thể thành lập được hộ kinh doanh thì hai đối tượng trên phải đáp ứng được những điều kiện như đã phân tích. Nếu không đáp ứng được những điều kiện đó thì cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình cũng không được phép thành lập hộ kinh doanh. Thứ hai, hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân Theo quy định tại khoản 1 Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015 một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi đáp ứng đủ các điều kiện như: (i) được thành lập hợp pháp; (ii) có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (iii) có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; (iv) nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Trên cơ sở này có thể thấy, hộ kinh doanh không đáp ứng đủ điều kiện của một tổ chức được công nhận là pháp nhân. Điều này thể hiện ở việc hộ kinh doanh không có tài sản độc lập, mọi tài sản đưa vào kinh doanh và được tạo lập bởi hoạt động kinh doanh thông qua hộ kinh doanh đều là tài sản của cá nhân hoặc của các thành viên hộ gia đình. Ngoài ra, cá nhân chủ hộ hoặc người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện đều có quyền 10 nhân danh hộ kinh doanh tham gia các quan hệ với cơ quan Nhà nước, và là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các quan hệ tố tụng. Như vậy, ta có thể nhận thấy không có sự tách bạch giữa chủ hộ và hộ kinh doanh khi tham gia các quan hệ dân sự.
Vì vậy, hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân. Thứ ba, hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn về nợ Như đã phân tích ở khái niệm hộ kinh doanh nói trên, thì hộ kinh doanh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ.