Phần mở đầu, 02 chƣơng và kết luận. 8 Trong Chƣơng 1 ―Những vấn đề lý luận của pháp luật về mua lại doanh nghiệp tại Việt Nam‖, tác giả trình bày khái niệm mua lại doanh nghiệp; khái niệm Pháp luật về mua lại; những cơ sở và vai trò của pháp luật về mua lại doanh nghiệp. Ở Chƣơng 2 ―Đánh giá và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam‖, tác giả phân tích thực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về mua lại doanh nghiệp tại Việt Nam qua các quy định về chủ thể thực hiện mua lại; hình thức thực hiện mua lại; thủ tục thực hiện mua lại; quy định về bảo vệ lợi ích của chủ thể có liên quan trong mua lại; chỉ ra một số bất cập của pháp luật; trên cơ sở đó đƣa ra một số đề xuất cụ thể để hoàn thiện pháp luật về mua lại doanh nghiệp tại Việt Nam. 9 CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 1.
Khái niệm, đặc điểm mua lại doanh nghiệp Mua lại doanh nghiệp đƣợc tiếp cận định nghĩa từ góc độ kinh tế và góc độ pháp lý. Luận văn xem xét mua lại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam và phân biệt với khái niệm mua lại theo nghĩa kinh tế. Mua lại doanh nghiệp (Acquisition) vốn là một phần của thuật ngữ ―sáp nhập và mua lại‖ (Mergers and Acquisitions – viết tắt là M&A). Theo Từ điển tài chính Investopedia, M&A là một thuật ngữ phổ thông liên quan đến việc hợp nhất các công ty lại với nhau.
Sáp nhập là một sự kết hợp hai hoặc nhiều công ty với nhau để hình thành nên một công ty mới, còn mua lại là việc một công ty mua một công ty khác mà không có công ty mới nào đƣợc thành lập6.Trên thực tế, việc phân biệt sáp nhập và mua lại trong thuật ngữ M&A không thật sự quan trọng đối với các thƣơng nhân vì theo họ, M&A đơn giản là việc một doanh nghiệp thực hiện một số hoạt động nhằm mục đích nắm đƣợc quyền kiểm soát, chi phối một doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, ở khía cạnh pháp lý, việc phân biệt hai khái niệm sáp nhập và mua lại là một điều quan trọng khi nghiên cứu về M&A, nhƣng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ tập trung phân tích đối với hoạt động mua lại. Cũng theo Từ điển tài chính Investopedia, mua lại đƣợc định nghĩa là một hành động của công ty (corporate action) khi công ty mua lại toàn bộ hoặc hầu hết vốn sở hữu của công ty mục tiêu nhằm nắm quyền kiểm soát công ty mục tiêu. Mua lại thƣờng đƣợc thực hiện nhƣ một phần trong chiến lƣợc phát triển của công ty khi mà việc thâu tóm việc kinh doanh của một công ty đang hoạt động sẽ đem lại nhiều lợi ích và thích hợp hơn so với việc tƣ mở rộng công ty.
Mua lại thƣờng đƣợc thanh toán bằng tiền mặt, cổ phiếu của công ty mua lại hoặc kết hợp cả hai cách trên7. Định nghĩa này đã phần nào nói lên đƣợc bản chất của việc mua lại đó là nhằm kiểm soát công ty mục 6 Từ điển đầu tư, định nghĩa M&A: http://www.com/terms/m/mergersandacquisitions. Truy cập vào lúc 14 giờ 23 phút, ngày 20/5/2017 7 Từ điển đầu tƣ: http://www.com/terms/a/acquisition. Truy cập vào lúc 14 giờ 30 phút, ngày 20/5/2017.
Bên cạnh đó, định nghĩa còn chỉ ra những cách thức thực hiện giao dịch mua lại cũng nhƣ khẳng định những lợi ích của việc mua lại mang đến cho công ty sẽ nhiều hơn so với khi chính bản thân công ty tự đầu tƣ trực tiếp để mở rộng công việc kinh doanh của mình. Thật vậy, việc mua lại sẽ giúp cho công ty mua lại giảm thiểu chi phí và thời gian trong việc thâm nhập thị trƣờng nhờ tận dụng đƣợc thƣơng hiệu, công nghệ, nguồn nhân lực, thị phần,… sẵn có từ chính công ty bị mua lại. Có thể nói, mua lại đƣợc xem nhƣ một công cụ nhanh chóng và mạnh mẽ nhất mà các công ty có thể sử dụng để thay đổi và phát triển trong cuộc chơi cạnh tranh khốc liệt này. Tác giả David Logan Scott đã đƣa ra định nghĩa thuật ngữ mua lại trong cuốn ―Những từ ngữ phố Wall: Hƣớng dẫn từ A đến Z các thuật ngữ đầu tƣ cho các nhà đầu tƣ hiện nay‖ nhƣ sau: ―Mua lại là việc mua tài sản như nhà máy, một bộ phận hoặc thậm chí là cả công ty.
Ví dụ như công ty Walt Disney đã mua lại công ty Capital Citie/ABC vào năm 1996 để mở rộng phạm vi hoạt động của mình trong ngành công nghiệp giải trí‖8. Định nghĩa mà David L. Scott đƣa ra tuy rất đơn giản và ngắn gọn nhƣng lại khá bao quát. Bên cạnh đó, định nghĩa này còn đƣa ra một nội dung mới đó là mua lại một bộ phận của công ty.
Một ví dụ điển hình gần đây cho nội dung này chính là việc Microsoft mua lại bộ phận Thiết bị và dịch vụ của Nokia với giá kỉ lục 7,2 t USD vào năm 20139. Trong giao dịch này, Microsoft chỉ có quyền kiểm soát và quản lý đối với bộ phận Thiết bị và dịch vụ của Nokia, bao gồm các dòng điện thoại, bằng sáng chế, nhân sự,… thuộc bộ phận này, còn những bộ phận còn lại bao gồm Cơ sở hạ tầng mạng, Dịch vụ bản đồ HERE và Công nghệ cao vẫn thuộc quyền kiểm soát của Nokia và độc lập với Microsoft. Tuy nhiên, định nghĩa trên chỉ tiếp cận thuật ngữ mua lại dƣới góc độ mua lại tài sản và xem công ty cũng là một loại tài sản nhƣng cách thức mua lại công ty nhƣ thế nào thì lại không nêu ra. Do đó, nó vẫn chƣa thật sự đầy đủ và rõ ràng.
8 David Logan Scott (2003), Wall Street Words: An A to Z Guide to Investment Terms for Today's Investor, Houghton Mifflin HarCourt, The Unites States of America, tr. 9 Giao dịch giữa Microsoft và Nokia chính thức đƣợc thông báo vào ngày 3 tháng 9 năm 2013 và hoàn tất vào ngày 25 tháng 4 năm 2014. 11 Còn theo Từ điển kinh doanh, mua lại đƣợc định nghĩa là việc nắm quyền kiểm soát một công ty khác bằng cách mua ít nhất 51% phần vốn góp, cổ phần có quyền biểu quyết của công ty đó10. Trong khi những định nghĩa phía trên chỉ nói lên đƣợc bản chất của việc mua lại là nắm quyền kiểm soát một công ty khác thì định nghĩa này còn đƣa ra chính xác, cụ thể tỉ lệ phần vốn góp, cổ phần cần nắm giữ là ít nhất 51% nếu muốn kiểm soát một công ty khác.
Điều này đã phần nào giúp ngƣời đọc dễ hình dung hơn khái niệm mua lại doanh nghiệp mặc dù trên thực tế, tỉ lệ phần vốn góp, cổ phần đủ để nắm quyền kiểm soát một doanh nghiệp khác còn phụ thuộc vào quy định của pháp luật của từng quốc gia trên thế giới và định nghĩa này cũng chỉ mới dừng lại ở phƣơng thức mua lại phần vốn góp, cổ phần của công ty mà vẫn chƣa đề cập đến việc mua lại tài sản của công ty. Ở Việt Nam, thuật ngữ mua lại doanh nghiệp còn đƣợc thay thế bởi nhiều thuật ngữ khác nhau với nghĩa tƣơng tự nhƣ ―mua bán doanh nghiệp‖11 hoặc ―thâu tóm doanh nghiệp‖12. Theo tác giả Lƣu Minh Đức, thâu tóm (takeover) là khái niệm dùng để chỉ một công ty tìm cách nắm giữ quyền kiểm soát đối với một công ty khác thông qua việc thâu tóm toàn bộ hoặc một t lệ số lƣợng cổ phần hoặc tài sản của công ty mục tiêu đủ để có thể khống chế toàn bộ các quyết định của công ty đó. T lệ này có thể khác nhau theo quy định cụ thể của Luật Công ty của từng nƣớc.
Ví dụ ở Việt Nam t lệ này là 65%, trừ trƣờng hợp Điều lệ công ty mục tiêu quy định mức thấp hơn (tối thiểu là 51%). Sau khi kết thúc chuyển nhƣợng, công ty mục tiêu sẽ trở thành một công ty con của công ty thâu tóm13. Định nghĩa mà tác giả Lƣu Minh Đức đƣa ra khá đầy đủ và rõ ràng vì đã giới thiệu tất cả các phƣơng thức thực hiện việc mua lại doanh nghiệp bao gồm mua cổ phần, phần vốn góp theo một t lệ nhất định hoặc mua tài sản của doanh nghiệp để nắm quyền kiểm soát và hệ quả của việc mua lại doanh nghiệp. 10 Từ điển kinh doanh: http://www.com/definition/acquisition.
Lần cuối truy cập vào lúc 15 giờ 45 phút, ngày 20/5/2017. 11 Trần Thanh Tùng (2007), Mua bán doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành, Luận văn thạc sĩ, Tp. Hồ Chí Minh. 12 Lƣu Minh Đức (2008), ―Thâu tóm và hợp nhất nhìn từ khía cạnh quản trị công ty: Lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam‖, Quản lý kinh tế, (7+8), tr.
13 Lƣu Minh Đức, tlđd, tr. 12 Một định nghĩa khác về mua lại doanh nghiệp đƣợc đƣa ra nhƣ sau: ―Mua lại cũng là hoạt động xảy ra khi một doanh nghiệp mua lại một phần /toàn bộ cổ phần hay toàn bộ tài sản của một doanh nghiệp khác, coi đó như một chi nhánh của mình, doanh nghiệp đi mua lại và doanh nghiệp mục tiêu vẫn có thể tồn tại và độc lập về mặt pháp lý. Thương hiệu của doanh nghiệp bị mua lại có thể được giữ nguyên hay bị thay đổi tùy theo quyết định của doanh nghiệp tiến hành mua lại. Mục tiêu của doanh nghiệp đi mua lại doanh nghiệp khác là nhằm đạt được lợi thế quy mô, tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và tăng thị phần.
Trong hoạt động mua lại, một công ty có thể mua lại một công ty khác bằng tiền mặt, cổ phiếu hay kết hợp cả hai loại trên. Một hình thức khác phổ biến trong những thương vụ mua bán nhỏ hơn là mua tất cả tài sản của công ty bị mua‖14. Định nghĩa này tuy khá bao quát, toàn diện khi đề cập đến hệ quả pháp lý, phƣơng thức thực hiện và mục tiêu của mua lại doanh nghiệp nhƣng lại không đề cập đến bản chất của mua lại doanh nghiệp là nhằm nắm quyền kiểm soát một doanh nghiệp khác. Theo Luật đầu tƣ, nếu chúng ta hiểu mua lại doanh nghiệp chỉ dừng lại ở việc mua lại một phần hoặc toàn bộ cổ phần hay toàn bộ tài sản của một doanh nghiệp khác thì ngƣời đọc sẽ dễ nhầm lẫn với hoạt động góp vốn, mua cổ phần – một hoạt động đầu tƣ15 khá phổ biến hiện nay.