LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cƣ trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nƣớc ngoài; hƣởng chế độ ƣu đãi của Nhà nƣớc hoặc để đạt đƣợc mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình. Việc kết hôn giả tạo hiện đang nảy sinh khá phổ biến ở Việt Nam gây ảnh hƣởng đến quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và gia đình của nƣớc ta cũng nhƣ của một số nƣớc ngoài. Tuy nhiên, trong thực tế rất khó phát hiện và nhận biết đƣợc việc kết hôn giả tạo, vì việc kết hôn này thƣờng đƣợc sắp đặt, dàn dựng và toàn bộ hồ sơ thủ tục pháp lý là đầy đủ và hợp pháp.
Đặc biệt là việc kết hôn giả tạo đã trở thành một nghề để kinh doanh trục lợi thông qua hoạt động môi giới. Việc kết hôn giả tạo theo quy định của nhiều nƣớc là vi phạm pháp luật, vi phạm các nguyên tắc về hôn nhân và gia đình trong việc xây dựng một gia đình bền vững, hạnh phúc. Kết hôn giả không chỉ dừng lại ở chỗ xác lập quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý để đạt mục đích nào đó mà còn có những vấn đề phức tạp xảy ra nên không thể lƣờng trƣớc đƣợc những hậu quả phát sinh. Tiềm ẩn những nguy cơ nhƣ nạn buôn bán ngƣời xuyên quốc gia, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ, lợi dụng điểm yếu để đòi hỏi về vật chất hoặc gây áp lực tinh thần, v.v…Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có quy định về vấn đề kết hôn giả tạo tại Khoản 11 Điều 3 và điểm a Khoản 2 Điều 5.
Tuy nhiên những quy định này chƣa giải quyết đƣợc các vấn đề phức tạp xung quanh việc kết hôn giả tạo. Ngoài ra, trong giới khoa học pháp lý vẫn còn ít công trình nghiên cứu về vấn đề này. Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về kết hôn giả tạo ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu nhằm làm rõ các vấn đề liên quan đến kết hôn giả tạo và góp phần hoàn thiện pháp luật về kết hôn giả tạo ở Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: Làm rõ những vấn đề lý luận về kết hôn giả tạo và thực tiễn xử lý tại Việt Nam cũng nhƣ một số quốc gia nhƣ Anh, Mỹ, Úc.
Phân tích những ảnh hƣởng tiêu cực, hệ lụy của kết hôn giả tạo. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật về kết hôn giả tạo tại Việt Nam. Để đạt đƣợc mục tiêu tổng quát, luận văn có các mục tiêu cụ thể dƣới đây: - Làm rõ những vấn đề lý luận về kết hôn giả tạo: Khái niệm, bản chất, động cơ, hệ quả của kết hôn giả tạo; - Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về kết hôn giả tạo và xử lý kết hôn giả tạo; - Kiến nghị và đƣa ra một số phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kết hôn giả tạo ở Việt Nam hiện nay. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Kết hôn giả tạo Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về kết hôn giả tạo đƣợc quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 và các văn bản hƣớng dẫn thi hành hiện đang có hiệu lực.
Đồng thời có sự tìm hiểu vấn đề kết hôn giả tạo theo pháp luật một số quốc gia nhƣ Anh, Mỹ, Úc. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về Nhà nƣớc và Pháp luật, về hôn nhân và gia đình. Bên cạnh đó luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học khác nhƣ: So sánh pháp luật, phân tích lịch sử, phân tích quy phạm, mô tả, tổng hợp, thống kê, hệ thống hóa để giải quyết các vấn đề mà đề tài đã đặt ra. Kết cấu của luận văn 3 z Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng: Chƣơng I: Những vấn đề lý luận của pháp luật về kết hôn giả tạo Chƣơng II: Thực trạng pháp luật Việt Nam về kết hôn giả tạo và xử lý kết hôn giả tạo Chƣơng III: Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kết hôn giả tạo ở Việt Nam hiện nay.
4 z CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN GIẢ TẠO 1.1 Khái niệm, bản chất của kết hôn giả tạo 1.1 Khái niệm kết hôn giả tạo Trƣớc hết cần khẳng định rằng, kết hôn giả tạo là một khái niệm pháp lý đƣợc pháp luật quy định và điều chỉnh bởi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó: “Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình”(Khoản 11 Điều 3). Đây là quy định mới của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định cấm kết hôn giả tạo tại Khoản 2 Điều 4 về Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình nhƣng không giải thích từ ngữ thế nào là “kết hôn giả tạo”, cũng không quy định việc kết hôn giả tạo nằm trong các trƣờng hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10.
Việc bỏ ngỏ quy định về kết hôn giả tạo đã khiến các cơ quan nhà nƣớc lúng túng trong việc xác định thế nào là kết hôn giả tạo, trƣờng hợp nào cấm và trƣờng hợp nào không cấm (điều này sẽ đƣợc đề cập lại và giải thích rõ hơn trong chƣơng II của luận văn này). Đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có quy địnhkết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo vào các hành vi bị cấm tại Khoản 2 Điều 5, đồng thời giải thích khái niệm kết hôn giả tạo tại khoản 11 Điều 3, tạo căn cứ pháp lý giải quyết các hành vi kết hôn giả tạo phát sinh trong thực tiễn. Còn pháp luật các nƣớc khác, đặc biệt là các nƣớc phát triển quy định nhƣ thế nào về khái niệm kết hôn giả tạo? Khi tìm hiểu vấn đề kết hôn giả tạo tại vƣơng quốc Anh, nổi bật nhất phải kể đến công trình nghiên cứu của Bộ Nội vụ về “Kết hôn giả tạo và quan hệ đối tác dân sự - thông tin cơ bản và phƣơng án điều tra” (Sham marriages and Civil partnership– Background 5 z information and investigation scheme) tháng 11 năm 2013. Nghiên cứu này gồm 72 trang giới thiệu về hôn nhân giả tạo tại Anh và đƣa ra các phƣơng án điều tra để chống lại kết hôn giả tạo.
Trong đó quy định: “Hôn nhân giả tạo, hay cuộc hôn nhân vì lợi ích, hay quan hệ đối tác dân sự giả tạo là thuật ngữ dùng để chỉ về một cuộc hôn nhân hoặc quan hệ dân sự theo những hợp đồng, thỏa thuận nhằm mục đích nhập cƣ hoặc những mục đích khác, đƣợc thực hiện bởi những cặp đôi không phải trong mối quan hệ chính thức” [19]. Còn tại nƣớc Mỹ, Cơ quan Di trú Hoa Kỳ (USCIS) và Cơ quanKiểm soát Nhập cƣ và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) đã ban hành một tài liệu về kết hôn giả tạo (marriage fraud brochure) trong đó ghi rõ các thông tin cơ bản về hôn nhân giả tạo, dạng hôn nhân giả tạo, hình phạt và các hậu quả khác cũng nhƣ cảnh báo ngƣời dân không kết hôn giả tạo. Tài liệu này đƣợc in dƣới dạng tờ rơi và đƣợc phổ biến rộng rãi trên khắp nƣớc Mỹ, kèm theo số điện thoại liên hệ để biết thêm thông tin hoặc để báo cáo khi phát hiện hành vi kết hôn giả tạo. Trong đó quy định các dạng hôn nhân giả tạo gồm: Công dân Mỹ đƣợc trả tiền, hoặc đƣợc yêu cầu kết hôn với ngƣời nƣớc ngoài; Cuộc hôn nhân đƣợc sắp đặt qua email khi công dân Mỹ hoặc ngƣời nƣớc ngoài biết nó là một gian lận; Một ngƣời nƣớc ngoài lừa gạt một công dân Hoa Kỳ để công dân đó tin rằng cuộc hôn nhân là hợp pháp [24].
Từ các khái niệm về hôn nhân giả tạo của Việt Nam, Anh và Mỹ đã trình bày trên đây có thể nhận xét rằng: Khái niệm về kết hôn giả tạo trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 không những liệt kê lại các trƣờng hợp mà pháp luật nƣớc Anh và Mỹ đề cập đến, mà còn bổ sung thêm và cụ thể hóa mục đích của kết hôn giả tạo dựa theo điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay, trong đó các mục đích gồm: xuất cảnh, nhập cảnh, cƣ trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nƣớc ngoài; hƣởng chế độ ƣu đãi của Nhà nƣớc hoặc mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình. 6 z Ngoài ra, Bộ Luật Dân sự năm 2015 có quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, theo đó, khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực. Từ những khái niệm trên, có thể xây dựng khái niệm về kết hôn giả tạo theo quan điểm của tác giả nhƣ sau: “Kết hôn giả tạo là việc kết hôn để che giấu những mục đích khác mà không nhằm xây dựng gia đình”, khái niệm nhƣ vậy vừa không cần liệt kê dài dòng mà vẫn bao quát đƣợc các mục đích đã đƣợc Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 liệt kê, vừa có bóng dáng của giao dịch dân sự giả tạo theo Luật Dân sự năm 2015 để khi xử lý việc kết hôn giả tạo có thể áp dụng các quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo.2 Bản chất của kết hôn giả tạo Trƣớc hết kết hôn giả tạo là biến thể mới của hôn nhân hiện đại. Cũng giống nhƣ cuộc hôn nhân bình thƣờng khác cũng đƣợc xã hội thừa nhận và đƣợc pháp luật bảo hộ, cho đến khi có bằng chứng chứng minh việc kết hôn đó là giả thì ta mới biết đƣợc có sự giả tạo trong việc kết hôn.
Nói một cách khách quan rằng hôn nhân giả tạo là cuộc hôn nhân có đầy đủ giá trị về mặt pháp lý; điều kiện kết hôn đều đáp ứng theo đúng quy định của pháp luật.