CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái quát lý luận về Hội đồng quản trị công ty cổ phần 1. Cơ sở lý luận về Hội đồng quản trị CTCP là một hình thức của tổ chức kinh doanh trong điều kiện xã hội nhất định. Khi nền kinh tế thị trường phát triển thì việc hình thành một tổ chức góp vốn của nhiều người và dùng danh nghĩa của công ty giao dịch, kinh doanh là điều tất yếu.
CTCP là một loại hình kinh doanh phổ biến hiện nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và phát triển nền kinh tế3. CTCP là một loại hình hội đủ nhiều ưu điểm bởi khả năng sử dụng, điều tiết, luân chuyển nguồn vốn rất linh hoạt4. Đồng thời, tính hoàn thiện về vốn, trình độ tổ chức và hoạt động mang tính xã hội cao,. là những ưu điểm lớn của loại hình công ty này.
CTCP hình thành từ thế kỷ thứ 18,19 khi nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển, các nhà tư bản muốn mở rộng thị trường, cạnh tranh và nắm giữ vị trí độc quyền thì họ cần hợp tác với nhau, hình thức CTCP ra đời để đáp ứng nhu cầu này. Trên thế giới các loại hình thức công ty đối nhân đã hình thành từ sớm, nhưng CTCP là hình thức công ty đối vốn đầu tiên. Có thể nói, CTCP phát triển mạnh nhất là ở Mỹ, khi ban đầu được thành lập chỉ để xây dựng đường xe lửa; bởi các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cần một số lượng vốn lớn và nhiều hạng mục công trình khác nhau. Bởi vì một công ty không thể thực hiện toàn bộ dự án, vì vậy các đối tác sẽ góp vốn, liên kết với nhau để mở công ty nhằm thực hiện các dự án trên.
3 Từ Thảo (2010), Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần trên thế giới và ở Việt Nam, https://thongtinphapluatdansu.vn/2010/05/03/4791/, [truy cập ngày 02/02/2021] 4 Nguyễn Vinh Hưng (2020), Công ty cổ phần trong môi trường thương mại Việt Nam hiện nay, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 01/2021, tr. 8 Sự phát triển kinh tế yêu cầu các doanh nghiệp phải liên kết với nhau và các nhà đầu tư cũng mong muốn giới hạn trách nhiệm của mình trong phần vốn đã góp vào công ty. Vì vậy hình thức CTCP được xem là giải pháp tối ưu cho hoạt động này. Về định nghĩa CTCP thì giáo trình Luật kinh tế có khái niệm như sau: Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó vốn điều lệ được chia thành cổ phần và cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty5.
Hay theo định nghĩa của từ điển Investopedia thì “Công ty cổ phần là một doanh nghiệp thuộc sở hữu của các nhà đầu tư, với mỗi nhà đầu tư sở hữu một cổ phần dựa trên số lượng cổ phiếu được mua.”6 LDN năm 2020 không định nghĩa cụ thể về CTCP mà tiếp cận theo hướng các đặc điểm của CTCP như vốn điều lệ, cổ đông và khả năng chuyển nhượng cổ phần hay trách nhiệm về các khoản nợ trong phạm vi số vốn đã góp trong công ty. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 111 LDN năm 2020 thì “CTCP có: vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác”. CTCP là một trong những loại hình đặc trưng của công ty đối vốn nên sẽ có những đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, CTCP bảo đảm được hạn chế rủi ro cho các cổ đông CTCP là loại công ty đối vốn, tạo thuận lợi cho các cổ đông được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn đối với phần vốn góp của mình vào công ty tương tự như loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn. Đây là một lá chắn hữu hiệu nhằm đảm bảo an 5 Nguyễn Thị Dung (2017), Luật kinh tế, nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, tr.
6 Xem thêm tại What is a Joint Stock Company, https://www.com/terms/j/jointstockcompany. 9 toàn cho các cổ đông, các nhà đầu tư của công ty. Chính vì vậy, ở CTCP phải có sự tách bạch rõ ràng giữa tài sản của công ty và tài sản riêng của các cổ đông, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực có độ rủi ro cao như: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản,. Thứ hai, CTCP có khả năng mở rộng phạm vi kinh doanh và dễ dàng thu hút nguồn vốn.
Các cổ đông CTCP có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần trừ các trường hợp đặc biệt như: cổ phần của cổ đông sáng lập, các loại cổ phần ưu đãi,. khiến việc luân chuyển nguồn vốn dễ dàng. Ngoài ra, CTCP được quyền phát hành cổ phiếu, trái phiếu đây là một đặc điểm riêng biệt để cho loại hình này được quyền huy động vốn mà không có ở loại hình công ty khác. Đặc điểm này làm cho CTCP trở thành loại hình công ty thích hợp để kinh doanh quy mô lớn và dễ dàng thu hút nguồn vốn từ bên ngoài.
Thứ ba, khả năng chuyển nhượng vốn thuận lợi Đối với loại hình CTCP thì không cần thiết có sự quen biết, thân thiết giữa các cổ đông mà chỉ cần quan tâm đến phần vốn góp của các cổ đông này trong công ty. Do đó, điều kiện để trở thành cổ đông của công ty cũng rất đơn giản: bằng việc mua ít nhất một cổ phần của công ty thì nhà đầu tư đã trở thành cổ đông của công ty và cũng có quyền biểu quyết. Đối với các nhà đầu tư khi cần thiết họ có thể chuyển nhượng cổ phần của mình cho các nhà đầu tư khác thông qua hợp đồng chuyển nhượng hoặc mua bán trên thị trường chứng khoán. Như vậy, có thể thấy CTCP là một hình thức doanh nghiệp có trách nhiệm hữu hạn và có cơ cấu tổ chức bao gồm ĐHĐCĐ, HĐQT, BKS.
Theo quy định của LDN năm 2020 thì cơ cấu tổ chức của CTCP được thể hiện theo hai mô hình dưới đây7: 7 Khoản 1 Điều 137 LDN năm 2020. 10 Đây là mô hình ĐHĐCĐ, HĐQT, BKS và Giám đốc (Tổng giám đốc). Trường hợp CTCP có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có BKS. Theo đó từng cơ quan tại bộ máy này có quyền hạn và nhiệm vụ như sau: Về ĐHĐCĐ bao gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của CTCP.
Về nguyên tắc, các cổ đông không có quyền biểu quyết thì không tham dự ĐHĐCĐ đó là cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi và cổ phần ưu đãi hoàn lại8. ĐHĐCĐ không thường xuyên hoạt động mà chỉ họp thường niên mỗi năm một lần. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt có thể tổ chức họp bất thường theo quy định. Về HĐQT thì có ý kiến rằng HĐQT là cơ quan quyền lực mang tính hạt nhân trong CTCP.
Bởi vì HĐQT là cơ quan có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của CTCP nếu không thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ9. Do chịu trách nhiệm quản lý điều hành mọi hoạt động của công ty nên quyền hạn của cơ quan này rất lớn nên nếu các thành viên HĐQT hoạt động cần mẫn, 8 Điều 117 và Điều 118 LDN năm 2020. 9 Khoản 1 Điều 153 LDN năm 2020 11 có tinh thần trách nhiệm cao thì hoạt động của công ty hoặc các nhóm cổ đông thiểu số sẽ được hưởng lợi và ngược lại nếu như thành viên HĐQT liên kiết để chuyên quyền, tư lợi thì sẽ gây ảnh hưởng, gây thiệt hại cho công ty nên cần BKS để kiểm tra, giám sát hoạt động của các thành viên HĐQT. Về BKS là cơ quan chịu trách nhiệm kiểm soát mọi hoạt động của HĐQT và các chức danh lãnh đạo khác của CTCP.
Về nguyên tắc, BKS là do ĐHĐCĐ bầu ra có nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu là giám sát hoạt động của HĐQT và Ban giám đốc trong việc quản lý và điều hành của công ty. Theo đó BKS phải được tiếp cận thông tin liên quan đến hoạt động của các chủ thể trên và đưa ra báo cáo thẩm định cho ĐHĐCĐ, đồng thời đưa ra các biện pháp nhằm cải thiện, giải pháp để khắc phục cũng như nâng cao chất lượng quản trị cho công ty. Nhưng trên thực tế, vẫn có trường hợp HĐQT và BKS cấu kết gây thiệt hại cho công ty. Mô hình thứ hai có thêm thành viên độc lập HĐQT và Ủy ban kiểm toán trực thuộc HĐQT, cụ thể như sau: Đây là mô hình được bổ sung thêm thành viên độc lập HĐQT, một thuật ngữ được đưa vào luật có ý nghĩa đề cao sự độc lập của HĐQT trong việc giám sát, là một biện pháp nâng cao quản trị công ty của CTCP ở các nước Châu Âu.
Quyền hạn và 12 nghĩa vụ của các cơ quan như ĐHĐCĐ, HĐQT, Ban giám đốc cũng tương tự như mô hình 1, sự khác biệt là có sự tham gia Ủy ban kiểm toán và thành viên độc lập. Ở mô hình này trách nhiệm giám sát và kiểm soát hoạt động của HĐQT và Ban giám đốc thuộc về Ủy ban kiểm toán và thành viên độc lập, tính độc lập của thành viên độc lập HĐQT thể hiện ở tiêu chuẩn và điều kiện khắt khe hơn, chính vì vậy đảm bảo không bị chi phối bởi lợi ích hay quyền lực của các thành viên HĐQT khác. Như đã trình bày ở trên, ĐHĐCĐ là cơ quan quyền lực cao nhất, trực tiếp bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên HĐQT và Kiểm soát viên. Trường hợp công ty hoạt động theo mô hình Ủy ban kiểm toán và thành viên độc lập HĐQT thì Ủy ban kiểm toán là cơ quan trực thuộc HĐQT nên có thể dẫn đến tình trạng thông đồng, móc nối giữa HĐQT và Ủy ban kiểm toán gây thiệt hại cho công ty.
Tại khía cạnh này thì pháp luật Cộng hòa liên bang Đức quy định BKS là cơ quan bầu ra thành viên HĐQT và chịu trách nhiệm giám sát hoạt động của các cơ quan này.